vanban.org

Bản án 01/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cáo Seo C.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cáo Seo C được ly hôn với chị Vàng Thị T. Mối quan hệ hôn nhân giữa anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T được chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho anh Cáo Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Cáo Seo M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Cáo Seo C - Vàng Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cáo Seo C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HNGĐ- ST
Ngày: 12-01-2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Vàng Văn Thủy

+ Ông Giàng Seo Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 10 năm 2022 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2022/QĐXX- ST, ngày 12 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 27/12/2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Cáo Seo C - sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn S, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt.

2.Bị đơn: Chị Vàng Thị T - sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn Thôn S, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn nhận ngày 12/10/2022 và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Cáo Seo C trình bày: Anh và chị Vàng Thị T về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện. Đến ngày 20 tháng 01 năm 2015 anh và chị T đã đi đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 7 năm 2016 không biết vì lý do gì chị Vàng Thị T tự ý bỏ nhà đi không nói gì với anh, anh đã tìm mọi nơi, hỏi bạn bè, người thân trong họ tộc của chị T, nhưng không có tin tức xác thực chị T đã đi đâu, làm gì và còn sống hay đã chết. Anh Cáo Seo C đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Vàng Thị T mất tích và đã được Tòa án giải quyết ngày 23 tháng 9 năm 2022. Nay anh Cá xét thấy tình cảm không còn, để đảm bảo cuộc sống sau này của anh, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vàng Thị T.

VÒ con chung: Quá trình chung sống giữa anh Cá và chị T có 02 con chung, cháu lớn tên là: Cáo Thị X, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2011, cháu nhỏ tên là: Cáo Seo M, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2012. Hiện nay cháu X đã đi cùng chị T, từ khi đi đến nay cháu chưa về nhà, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết đối với cháu X. Còn cháu M hiện đang sống cùng với anh. Nguyện vọng của anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu M, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị Tâu phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Vàng Thị T, sinh năm 1993. Nơi cư trú cuối cùng: thôn S, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 01/2022/QĐST- VDS, ngày 23 tháng 9 năm 2022.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử theo hướng:

+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Anh Cáo Seo Cá được ly hôn chị Vàng Thị T.

+ Về con chung: Căn cứ Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Giao cho anh Cáo Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Cáo Seo M , sinh ngày 29 tháng 7 năm 2012, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Vàng Thị Tâu không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đương sự phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Cáo Seo C khởi kiện xin ly hôn chị Vàng Thị T, nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Đây là quan hệ pháp luật về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai thụ lý và giải quyết theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền theo lãnh thổ và loại việc được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý cho bị đơn chị Vàng Thị T theo quy định tại Điều 196 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án ra thông báo phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã niêm yết tại nơi cư trú và trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện B nơi chị T cư trú trước đây và niêm yết thông báo hoãn phiên họp việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Niêm yết thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa bị đơn chị T vắng mặt không có lý do, nên đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử. Tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn không có mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết. Đối với anh Cáo Seo C có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T về chung sống với nhau từ năm 2007 trên cơ sở tự nguyện. Đến năm 2015 anh chị đã đi đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Đến tháng 7 năm 2016 không biết vì lý do gì chị Vàng Thị T tự ý bỏ nhà đi không nói gì với anh, anh đã tìm mọi nơi nhưng không có tin tức xác thực chị T đã đi đâu, làm gì và còn sống hay đã chết. Anh Cáo Seo C đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Vàng Thị T mất tích.Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số: 01/2022/QĐST- VDS, ngày 23 tháng 9 năm 2022 tuyên bố chị Vàng Thị T mất tích. Ngày 12/10/2022 anh C làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T. Xét việc yêu cầu xin ly hôn của anh C là có cơ sở, phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận giải quyết theo yêu cầu của anh Cá. Mối quan hệ hôn nhân giữa anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T được chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống giữa anh C và chị T có 02 con chung, cháu lớn tên là: Cáo Thị X, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2011, cháu nhỏ tên là: Cáo Seo M, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2012. Đối với cháu X khi chị T bỏ đi đã đưa cháu X đi cùng từ đó cho đến nay chưa về nhà, nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết đối với cháu X. Hiện nay còn cháu M đang sống cùng với anh. Nguyện vọng của anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu M, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hỏi ý kiến của cháu M thì cháu có nguyện vọng xin được sống cùng với anh C.

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Vàng Thị T đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà tuyên bố mất tích. Đối với cháu X đã đi theo chị T từ năm 2016 cho đến nay chưa về nhà, nên anh C không đề nghị giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật. Còn cháu M đang sống cùng với anh C. Xét nguyện vọng của cháu M muốn sống cùng với anh C và anh C có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu M, anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81,82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của anh C, giao cho anh Cáo Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Cáo Seo M, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2012, cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi, chị Vàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối cháu Cáo Thị X, sinh ngày 11 tháng 6 năm 2011 đã đi cùng với chị T từ năm 2016 cho đến nay chưa về nhà, anh C không đề nghị Tòa án giải quyết. Tuy nhiên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu M cũng như đối với cháu X của cha, mẹ đối với con, khi nào chị T và cháu X trở về thì anh C có quyền yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung và đề nghị giải quyết việc nuôi con đối với cháu X hoặc chị Tâu có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với cháu M thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác nếu có đủ căn cứ.

Về tài sản chung và các khoản nợ: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Cáo Seo C phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 ; Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cáo Seo C.

1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Cáo Seo C được ly hôn với chị Vàng Thị T. Mối quan hệ hôn nhân giữa anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T được chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con khi ly hôn: Giao cho anh Cáo Seo C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Cáo Seo M, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2012, cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Chị Vàng Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con; mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Cáo Seo C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng )

̀ tiền án phi dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm

́

́ đa nô ̣̃ p là 300.000 đồng theo biên lai số 0004021, ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Hà. Anh C đã nộp đủ tiền án phí dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Anh Cáo Seo C và chị Vàng Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ