- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST Ngày 09 - 01 - 2023 V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Mó Măng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 404/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 30 tháng 12 năm 2022 giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Văn P, sinh năm 1991; địa chỉ: thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ly H, sinh năm 1993; địa chỉ: thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn anh Ngô Văn P trình bày:
Anh P và chị Nguyễn Thị Ly H được Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 122/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09/5/2022. Về con chung: “Giao cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 cho chị Nguyễn Thị Ly H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi”.
Tuy nhiên, sau khi ly hôn đến nay thì chị H không trực tiếp nuôi con mà để cho bà ngoại là bà Văn Thị P1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặt khác, do tính chất công việc của chị H thường xuyên xoay ca không có thời gian chăm sóc con, hiện nay bà ngoại cũng bận làm ăn không có thời gian chăm sóc cho cháu. Bà ngoại cháu muốn anh P đón cháu về trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu nên anh P đã đón cháu về nuôi dưỡng từ tháng 6/2022 cho đến nay, chị H hoàn toàn không có thời gian để lo cho cháu.
Vì vậy, để đảm bảo cho việc sinh hoạt, học tập cũng như sự phát triển toàn diện của con. Nay anh P yêu cầu Tòa án giải quyết Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 cho anh P được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh P làm công nhân của Công ty Thép T thu nhập 8.400.000 đồng/tháng nên đảm bảo nuôi dưỡng con chung.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Ly H: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.
Qua biên bản xác minh ngày 08 và 28 tháng 11 năm 2022 thể hiện: Hiện nay cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 đang sinh sống cùng anh Ngô Văn P. Anh P làm công nhân tại Công ty Thép T thu nhập ổn định, đảm bảo việc trông nom, chăm sóc con. Tại địa phương anh P chấp hành tốt pháp luật và quy định của địa phương.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Văn P về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Giao con chung là cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 cho anh Ngô Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” được quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại thị trấn P, huyện K nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Ly H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 122/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 09/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc quyết định giao con chung là cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 cho chị Nguyễn Thị Ly H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, sau khi Tòa án giao con cho chị H nuôi dưỡng thì chị H không chăm sóc mà để cho bà Văn Thị P1 (mẹ đẻ chị H) chăm sóc. Do điều kiện không đảm bảo nên bà P1 nói anh P đón cháu H1 về nuôi dưỡng từ tháng 6/2022 cho đến nay. Như vậy, từ khi được giao nuôi dưỡng cháu H1 thì chị H không thực hiện việc nuôi dưỡng con chung.
Kết quả xác minh tại Chính quyền địa phương thể hiện: Hiện nay cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 đang sinh sống cùng anh Ngô Văn P. Anh P làm công nhân tại Công ty Thép T thu nhập ổn định, đảm bảo việc trông nom, chăm sóc con. Tại địa phương anh P chấp hành tốt pháp luật và quy định của địa phương. Như vậy, việc anh Ngô Văn P có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về án phí: Anh Ngô Văn P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn P.
Về con chung: Giao con chung cháu Ngô Thị Thanh H1, sinh ngày 23/3/2013 cho anh Ngô Văn P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị Ly H có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Ngô Văn P không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Anh Ngô Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0016468 ngày 07/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện K.
3. Thông báo quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Đình Nam |