vanban.org

Bản án 01/2023/DSPT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 05/01/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Th.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th, buộc ông Phan Văn C và bà Trần Thị H phải bồi thường cho bà Lê Thị Th (người đại diện hợp pháp của anh Lê Văn Th) tiền viện phí điều trị tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới và tiền mai táng phí 18.469.000 đồng (Mười tám triệu, bốn trăm sáu m… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp Bồi thường TH về tính mạng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/DS-PT
Ngày: 05 - 01 - 2023
“V/v: tranh chấp yêu cầu bồi thường
thiệt hại về tính mạng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trần Trung Thành và bà Từ Thị Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 84/2022/TLPT – DS ngày 10/11/2022 về việc tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DS - ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2822/2022/QĐ - PT ngày 01 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn Tr, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1981 và ông Phan Văn C, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn H, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, bà H có mặt, ông C vắng mặt.

Người kháng cáo: Bà Lê Thị Th là nguyên đơn trong vụ án

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Th trình bày: Bà yêu cầu vợ chồng ông bà Trần Thị H, Phan Văn C bồi thường thiệt hại về tính mạng cho con trai bà là anh Lê Văn Th, sinh năm 1998 là do khi đi làm về anh Th va chạm với con bò của vợ chồng bà H, ông C thả rong không có người trông giữ gây tai nạn, với số tiền chi phí điều trị tại Bệnh viện 14.938.000 đồng, chi phí mai táng 30.000.000 đồng; trước đây gia đình bà H hỗ trợ cho gia đình bà 4.000.000 đồng. Bà Th cho rằng lỗi là do con bò của bà H ông C không ai chăn dắt nên gây tai nạn với con trai bà và gây tử vong, số tiền viện phí, mai táng phí khá nhiều, gia đình khó khăn, đề nghị Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn bồi thường toàn bộ số tiền viện phí và mai táng phí trên cho gia đình bà.

* Tại bản tự khai, hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn – bà Trần Thị H và ông Phan Văn C trình bày: Việc anh Lê Văn Th con trai bà Th điều khiển xe máy đi trên đường không quan sát và tự đâm vào con bò của gia đình ông bà và tử vong. Quá trình giải quyết vụ án ông bà đồng ý bồi thường cho bà Th số tiền điều trị tại Bệnh viện 14.938.000 đồng, còn số tiền 30.000.000 đồng chi phí mai táng, tiền thuê xe thì ông bà không đồng ý, ông bà không có khả năng, ông bà đã hỗ trợ cho bà Th 4.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2022/DS - ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh đã quyết định: căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 13, 357, 468, 584, 585, 586, 588, 591, 601, 603 Bộ luật Dân sự; Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th.

Buộc ông Phan Văn C và bà Trần Thị H phải bồi thường cho bà Lê Thị Th tiền viện phí điều trị tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới, tiền mai táng phí số tiền 18.469.000 đồng (Mười tám triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng); Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 10/10/2022 bà Lê Thị Th gửi đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.

Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án xem xét.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về vụ án:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Sửa phần án phí, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại về tính mạng, sự việc xảy ra tại xã H, huyện Quảng Ninh, bị đơn cư trú tại xã H, huyện Quảng Ninh nên Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định, người kháng cáo không thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí kháng cáo nên chấp nhận để xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Phan Văn C vắng mặt do bị ốm, bà H vợ ông C có mặt và xác định khi đi ông C có trao đổi và giao cho bà quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ án, đây là phiên tòa mở lần thứ hai nên Hội đồng tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Th, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại bản kết thúc xác minh tin báo số: 01a/KTĐT ngày 24/01/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh, về vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 30/9/2021 tại thôn Tr1, xã H, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/9/2021 tại đường liên thôn xã V – H – D thuộc địa phận thôn Tr1, xã H, anh Lê Văn Th, sinh năm 1998 điều khiển xe mô tô BKS 73N3 – 2498 chạy hướng từ thôn Tr, xã H đến thôn Tr, xã V đã không làm chủ tay lái, không làm chủ tốc độ đã tự đâm vào con bò đi trên đường, lỗi hoàn toàn do anh Th điều khiển xe tự đâm vào con bò chứ không phải do người khác, phương tiện khác tác động. Hậu quả, anh Lê Văn Th bị thương đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới đến ngày 04/10/2021 đã tử vong.

Căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ điều trị do nguyên đơn cung cấp là 14.938.000 đồng và tiền chi phí mai táng 30.000.000 đồng, tổng số tiền 44.938.000 đồng, bà Th yêu cầu bị đơn phải bồi thường.

Căn cứ kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh thì sự việc xảy ra tai nạn là do lỗi hoàn toàn thuộc về anh Lê Văn Th. Tuy nhiên ông C, bà H cũng có phần lỗi là để con bò của gia đình đi trên đường không có người chăn dắt nên gián tiếp đến sự việc tai nạn với anh Th, do đó ông C bà H cũng phải chịu một phần trách nhiệm, sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn ông C bà H không có kháng cáo, theo trình bày của bà H và ông C đồng ý bồi thường số tiền điều trị tại Bệnh viện, Bản án sơ thẩm đã quyết định buộc ông C bà H bồi thường cho bà Th số tiền 22.469.000 đồng được trừ số tiền 4.000.000 đồng ông C bà H đã bồi thường còn lại bồi thường tiếp 18.469.000 đồng là phù hợp, do đó không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Th, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh.

Về án phí: Bản án sơ thẩm buộc bà Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là không đúng, Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, sửa bản án sơ thẩm về án phí, cần sửa Bản án sơ thẩm bà Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bà Th cũng không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bị đơn ông Cvà bà H phải chịu 923.450 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 308, Điều 309, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Toà án; tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Th. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST, ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh,

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th, buộc ông Phan Văn C và bà Trần Thị H phải bồi thường cho bà Lê Thị Th (người đại diện hợp pháp của anh Lê Văn Th) tiền viện phí điều trị tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới và tiền mai táng phí 18.469.000 đồng (Mười tám triệu, bốn trăm sáu mươi chín ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: sửa Bản án sơ thẩm bà Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bà Th không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bị đơn ông C và bà H phải chịu 923.450 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (05/01/2023).

Cỡ chữ