- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? 217; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430; Điều 440; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 01/2023/DS-ST Ngày: 13 - 01 - 2023 V/v hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Nhàn
2. Bà Phan Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 332/2022/TLST-DS ngày 31
tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 623/2022/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm
2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 563/2022/QĐST-DS ngày 27/12/2022
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trường N, sinh năm 1972; địa chỉ: số 7A
đường Hàm Nghi, khóm Bình Khánh 2, phường Bình Khánh, thành phố LX,
tỉnh AG (có mặt).
- Bị đơn: Ông Huỳnh Minh D, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp Mỹ Hội, xã
Mỹ Hội Đông, huyện CM, tỉnh AG (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, tự khai của ông Nguyễn Trường N và trong quá
trình giải quyết vụ án trình bày: Do quen biết với nhau nên từ năm 2017 - 2019,
ông Nguyễn Trường N có giao dịch mua bán thức ăn gia súc (chăn nuôi Vịt) với
ông Huỳnh Minh Dàng. Việc mua bán không lập thành văn bản, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, phía ông N giao thức ăn gia súc cho ông D về chăn nuôi, sau khi giao hàng thì từ 3 - 4 ngày sau ông D thanh toán tiền, việc mua bán diễn ra thuận lợi nhiều năm. Sau nhiều lần giao dịch, ông D còn nợ ông N số tiền là 280.625.000 đồng, có xác nhận công nợ lần 1 vào ngày 24/3/2021 và lần hai vào ngày 17/4/2021, sau nhiều lần nhắc nợ thì phía ông D hứa hẹn N ng đến nay vẫn không thực hiện. Vì vậy, ông Nguyễn Trường N yêu cầu ông Huỳnh Minh D có trách nhiệm trả số tiền nợ là 280.625.000 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo mức lãi suất Nhà nước quy định tính từ ngày 07/01/2020 cho đến ngày xét xử. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy xác nhận công nợ ngày 24/3/2021, có chữ ký và ghi họ tên Huỳnh Minh D (Huỳnh Văn Dàng) (bản chính); giấy xác nhận công nợ ngày 17/4/2021 có chữ ký và ghi họ tên Huỳnh Văn D (bản chính);
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Minh D đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý
vụ án N ng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai N nhưng ông Huỳnh Minh D vẫn vắng mặt, không rõ lí do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu tính lãi phát sinh trên số tiền 280.625.000
đồng, vẫn giữ quan điểm N đã trình bày, không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký,
những người tham gia tố tụng, Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy, hợp đồng mua bán thức ăn gia súc giữa ông N
và ông D được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, có chữ ký xác nhận công nợ của ông D ngày 24/3/2021 và ngày 17/4/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt và không gửi văn bản ý kiến nên việc ông N khởi kiện yêu cầu ông D trả số tiền 280.625.000 đồng là có căn cứ.
Về lãi suất, tại phiên tòa ông N rút lại yêu cầu tính lãi đối với số tiền
280.625.000 đồng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông N là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần Đình chỉ theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ các Điều 430, 440 Bộ luật dân sự; Điều
217, 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường N
- Buộc ông Huỳnh Minh D có nghĩa vụ trả ông Nguyễn Trường N số tiền
là 280.625.000 đồng
- Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất của ông Nguyễn Trường N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và bị
đơn ông Huỳnh Minh D có nơi cư trú: ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý, giải quyết
là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Về thời hiệu khởi kiện: Giao dịch dân sự về hợp đồng mua bán tài
sản được xác lập năm 2021, căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Điều 157 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, thì vụ án còn trong thời hiệu
khởi kiện.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Huỳnh Minh D đã được triệu tập
hợp lần thứ 2 mà vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Minh Dàng.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện, ông N yêu cầu ông D trả tiền mua thức ăn gia súc
còn nợ là 280.625.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày
07/01/2020 cho đến ngày xét xử.
Xét thấy, ông Huỳnh Minh D trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc
dù Tòa đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp
luật N ng bị đơn ông D vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp
bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật
Tố tụng Dân sự. Do đó, đủ căn cứ để xác định nguyên đơn có bán thức ăn gia
súc cho bị đơn ông D để chăn nuôi, hiện bị đơn ông D còn nợ lại ông N số tiền
là 280.625.000 đồng. Do ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên theo yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận. Buộc
ông Huỳnh Minh D có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Trường N số tiền là 280.625.000 đồng là phù hợp.
Tại phiên tòa, ông N rút yêu cầu trả lãi của số tiền 280.625.000 đồng đối
với ông Dàng, việc rút yêu cầu tính lãi của đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp nên Hội đồng xét xử Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Trường N đối với số tiền lãi phát sinh là phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
- Ông Huỳnh Minh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 14.031.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 227 khoản 2 Điều 244; Điều
217; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430; Điều 440; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường N
Buộc ông Huỳnh Minh D có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Trường N
số tiền là 280.625.000 đồng.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường N về
việc yêu cầu ông Huỳnh Minh D trả lãi suất của số tiền là 280.625.000 đồng theo quy định pháp luật từ ngày 07/01/2020 cho đến ngày xét xử.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Huỳnh Minh D phải chịu 14.031.000 đồng tiền án phí dân sự sơ
thẩm
3.2. Hoàn lại 7.016.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho ông
Nguyễn Trường N theo biên lại thu số 0012793 ngày 31/10/2022 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện Chợ Mới.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các
đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An
Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
công khai.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7
luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều
30 luật thi hành.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |