vanban.org

Bản án 01/2023/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 03/01/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 249/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Cẩm L. Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà L số tiền nợ hụi là 30.500.000 đồng (Ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Thị Cẩm Linh - Lê Văn Hùng"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 249/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/DS-PT
Ngày 03/01/2023
V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Phương Loan

Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào

Ông Đặng Minh Trung

Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2022/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 249/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 302/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1979 (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Tuyết X, sinh năm 1978 (có mặt), ông Lê Quốc T2, sinh năm 1977 (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1959 (có mặt).

Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh C ..

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1: Bà Lê Kim P, sinh năm 1954 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Tuyết X, sinh năm 1978 (có mặt).

- Ông Lê Quốc T2, sinh năm 1977 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, thành phố C, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị T1 – Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn, bà Lê Thị Cẩm L trình bày: Ngày 15/6/2019 bà Nguyễn Thị T1 làm chủ hụi đã mở 04 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, mỗi dây hụi gồm có 34 chưng, khui hụi vào ngày 15 và giao tiền hụi cho người hốt hụi vào ngày 20 hàng tháng. Theo bà T1 quy định nếu người nào tham gia hụi từ 03 chưng trở lên thì không được hốt hết mà phải dằn lại 01 chưng đảm bảo. Bà L đã tham gia 03 chưng hụi, vợ chồng ông T1ảng và bà X tham gia 04 chưng hụi. Do bà đi làm ở Bình Dương nên không trực tiếp tham gia khui hụi mà nhờ vợ chồng ông T1ảng bà X đi khui hụi, đóng tiền hụi, hốt hụi và nhận tiền hụi dùm bà, hàng tháng bà gửi tiền về đóng hụi. Bà đã hốt 01 chưng hụi ở dây thứ nhất và 01 chưng hụi ở dây thứ ba, riêng chưng hụi ở dây thứ hai bà không được hốt vì phải dằn lại theo quy định nhưng do cần tiền nên bà có mượn 01 chưng hụi của vợ chồng ông T1ảng để hốt, hàng tháng bà vẫn gửi đủ 03 triệu cho vợ chồng ông T1ảng đóng hụi chết. Về mặt thực tế thì bà hốt 03 chưng (02 chưng của bà và 01 chưng mượn của vợ chồng ông T1ảng). Đến lần khui hụi vào tháng 3/2022, bà X đi khui hụi và đóng hụi cho bà thì phát hiện tên bà ở dây hụi thứ 02 bị gạch tên. Bà X hỏi thì bà T1 nói gạch nhầm. Mấy hôm sau thì bà T1 nói bà đã hốt hết 03 chưng hụi ở 03 dây hụi. Bà xác định, chỉ có hốt 02 chưng hụi và 01 chưng mượn của vợ chồng ông T1ảng để hốt, bà còn 01 chưng ở dây hụi thứ 02 chưa hốt. Do đó, bà khởi kiện yêu cầu bà T1 trả tiền hụi của chưng hụi còn sống là 33.000.000 đồng, trừ tiền hoa hồng 500.000 đồng và 02 chưng hụi đã hốt trước đó bà còn nợ lại tiền hụi chết kỳ cuối 2.000.000 đồng, đối trừ bà L yêu cầu vợ chồng bà T1 và ông H trả 30.500.000 đồng.

- Bị đơn, bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Ngày 15/6/2019 dương lịch, bà có mở 04 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, hụi khui ngày 15 hàng tháng. Bà L tham gia 03 chưng hụi của ba dây hụi (dây 01, dây 02 và dây 03), mỗi dây gồm 34 chưng. Cả 03 dây hụi có bà L tham gia đều mãn hụi vào tháng 3/2022 nhưng do ảnh hưởng tình hình dịch bệnh bà đã ngừng khui 02 tháng nên 03 dây hụi này đã mãn vào tháng 5/2022. Chưng hụi của bà L ở dây thứ nhất và dây thứ ba thì bà L đã hốt xong, bà đã giao đủ tiền, bà L đã đóng hụi chết còn nợ lại bà một kỳ hụi chết của hai chưng hụi bà L đã hốt là 2.000.000 đồng. Chưng hụi của dây thứ hai, bà L tiếp tục bỏ hụi để hốt hụi vào kỳ thứ 05 hoặc thứ 06 (bà không nhớ rõ), nhưng ngay từ khi mở hụi có quy định nếu một người tham gia từ 03 chưng hụi trở lên thì được hốt 02 chưng, còn 01 chưng thì phải dằn lại để đảm bảo cho việc đóng hụi chết của các chưng hụi đã hốt, nhưng do có mối quan hệ bà con với nhau nên bà X mới thỏa thuận với bà là lấy chưng hụi của vợ chồng bà X cho bà L hốt để đổi qua chưng hụi của bà L. Bà đồng ý, và đã giao tiền hụi cho bà L do bà X nhận thay, số tiền hụi đã giao bao nhiêu thì bà không nhớ và không nhớ do không có làm giấy tờ. Còn chưng hụi của bà L trên giấy tờ thì bà X đã hốt hụi vào kỳ thứ 29 ngày 15/12/2021. Đã qua, bà L vẫn đóng một chưng hụi sống đến kỳ thứ 34 thì bà phát hiện số tiền bà L đóng hàng tháng không phải hụi chết nên bà có điện thoại hỏi bà L là “đã hốt hụi rồi sao không đóng hụi chết mà đóng hụi sống” thì bà L nói rằng chưng hụi này bà L chưa hốt, từ đó phát sinh tranh chấp đến nay. Số tiền bà L đóng hụi sau khi hốt hụi được đối trừ thì bà L còn nợ bà 950.000 đồng cộng với 3 kỳ hụi chết cuối cùng của 3 chưng hụi bà L còn nợ 3.000.000 đồng, tổng cộng bà L còn nợ bà số tiền hụi chết 3.950.000 đồng nhưng bà không yêu cầu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Tuyết X và ông Lê Quốc T2 trình bày: Vợ chồng ông bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị T1 làm chủ. Hụi khui ngày 15/6/2019 dương lịch, gồm 04 dây hụi, mỗi dây có 34 chưng, ông bà tham gia 04 chưng của 04 dây hụi này (mỗi dây 01 chưng). Ngày 15/12/2019 vợ chồng ông bà lấy chưng hụi đầu tiên cho bà L mượn để hốt, lý do là bà L cũng có tham 03 chưng hụi trong các dây hụi này của bà T1 làm chủ, khi chơi hụi thì có quy định nếu một người tham gia từ 03 chưng hụi trở lên thì được hốt 02 chưng, còn 01 chưng thì phải dằn lại để đảm bảo cho việc đóng hụi chết của các chưng hụi đã hốt và do có quan hệ bà con nên vợ chồng ông bà với bà L và bà T1 thỏa thuận thống nhất lấy chưng hụi này của ông bà cho bà L mượn để hốt. Còn chưng hụi của bà L trên giấy tờ thì vẫn còn sống. Tiếp đến ngày 19/12/2019 ông bà hốt 01 chưng, ngày 15/10/2021 hốt 01 chưng, ngày 15/12/2021 hốt 01 chưng (không nhớ dây nào). Cả 04 dây hụi đã mãn hụi vào tháng 5/2022 và ông bà đã hốt xong, bà T1 đã giao đủ tiền. Việc bà T1 cho rằng chưng hụi của bà L trên giấy tờ còn sống thì ông bà đã hốt hụi vào kỳ thứ 29 là không đúng. Ông bà xác định không có hốt chưng hụi của bà L như bà T1 trình bày. Cả 04 chưng hụi của ông bà đã đóng hụi chết cho bà T1 còn nợ lại 01 kỳ cuối với tổng số tiền 4.000.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 249/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Cẩm L. Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H cùng có trách nhiệm trả cho bà L số tiền nợ hụi 30.500.000 đồng (Ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 04/10/2022, bị đơn là bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông H và bà P là người đại diện theo ủy quyền của bà T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận cho rằng bà L đã hốt hết 3 chân hụi và đã được bà T1 giao tiền hụi cho bà X và ông T1ảng nên không còn nợ tiền hụi của bà L.

Ông T1ảng và bà X là người đại diện theo ủy quyền của bà L tranh luận cho rằng ông bà không hốt dùm bà L chưng hụi thứ ba ở kì khui hụi thứ 29 nên bà T1 không giao tiền cho ông, bà. Bà T1 không có giấy tờ chứng minh việc bà L hốt hụi và giao tiền hụi nên yêu cầu bà T1 trả 30.500.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà T1 và ông H thừa nhận bà L tham gia 3 chưng hụi, mỗi chưng hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui 1 lần, mỗi dây hụi có 34 chưng bà L tham gia 3 chưng hụi ở 3 dây hụi do bà T1 làm chủ hụi khui ngày 15/6/2019. Bà T1 thừa nhận bà L đã hốt hai chưng hụi được bà T1 giao đủ tiền cho ông T1ảng và bà X, và thừa nhận bà L đã nộp hụi chết cho bà T1 đến lần thứ 33 được bà L, ông T1ảng và bà X thừa nhận. Còn lại một chưng hụi sống của bà L, bà T1 thừa nhận bà L đã nộp hụi sống cho bà T1 đến kì khui hụi thứ 33. Như vậy, bà L đã nộp hai chưng hụi chết và một chưng hụi sống cho bà T1 đến kì thứ 33. Tuy nhiên, bà T1 cho rằng bà L đã hốt chưng hụi thứ ba vào kì khui hụi thứ 29 ngày 15/12/2021 do vợ chồng ông T1ảng và bà X bỏ thăm và hốt thay bà L nhưng bà L, ông T1ảng và bà X không thừa nhận. Bà T1 cho rằng đã giao tiền hụi cho bà L do ông T1ảng và bà X nhận thay nhưng bà T1 không có chứng cứ chứng minh việc giao tiền hụi cho ông T1ảng và bà X, vì vậy không có cơ sở cho rằng bà L đã hốt chưng hụi thứ ba vào kì khui hụi thứ 29 ngày 15/12/2021. Tại phiên tòa, bà P là người diện theo ủy quyền của bà T1 và ông H cũng thừa nhận bà L đã nộp hụi sống cho bà T1 đến kì khui hụi thứ 33, lý do bà L đã hốt hụi nhưng bà T1 không nhớ nên đã thu tiền hụi sống của bà L do bà X và ông T1ảng nộp thay bà L. Lời trình bà của bà P và ông H không có cơ sở nên bà T1 và ông H kháng cáo cho rằng bà X và ông T1ảng đã hốt chưng hụi thứ ba cho bà L ở kì khui hụi thứ 29 là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, bản án sơ thẩm buộc bà T1 và ông H có trách nhiệm trả cho bà L 30.500.000 đồng là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà P là người đại diện theo ủy quyền của bà T1 không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, ông H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà T1 đã giao tiền hụi cho bà L do bà X và ông T1ảng nhận thay khi hốt hụi, các chứng cứ do bà T1 cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm cũng đều có nội dung như các chứng cứ do bà T1 cung cấp tại cấp sơ thẩm, nội dung đều thể hiện những người chơi hụi chỉ nghe bà T1 nói bà X hốt hụi dùm cho bà L ở kì khui hụi thứ 29, trong khi đó bà T1 thừa nhận đã thu tiền hụi sống của bà L đến kì thứ 33, vì vậy không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T1 và ông H.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn H là người cao tuổi nên được miễn án phí. Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu ½ án phí dân sự có giá ngạch là 762.500 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn H được miễn, bà Nguyễn Thị T1 phải chịu theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 249/2022/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Cẩm L. Buộc bà Nguyễn Thị T1 và ông Lê Văn H cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà L số tiền nợ hụi là 30.500.000 đồng (Ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Cẩm L không phải chịu. Ngày 01/7/2022 bà L có nộp tạm ứng án phí là 763.000 đồng theo biên lai số 0001656 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại. Ông Lê Văn H được miễn án phí. Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu là 762.500 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000 đồng, ngày 03 tháng 10 năm 2022 bà Nguyễn Thị T1 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002005 được chuyển thu. Ông Lê Văn H được miễn nộp, ông H có dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0002006 ngày 03/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THẨM PHÁN – THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Phương Loan Đinh Cẩm Đào

Đặng Minh Trung

Cỡ chữ