- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Nguyen Minh T tranh chap trương hop don phương cham dut hop dong lao dong voi cong PH"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T về “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” đối với Công ty TNHH Vật Liệu mỹ thuật BH.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 22 Bộ luật Lao động; Điều 36 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/LĐ- ST Ngày 15- 02 -2022 V/v: “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hùng; nghề nghiệp: giáo viên.
Nơi công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi Trảng Bàng;
Ông Tạ Kỳ Trung, nghề nghiệp: nguyên phó chủ tịch liên đoàn lao động.
Nơi công tác: Liên đoàn lao động Thị xã Trảng Bàng.
Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-LĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1964; Nơi ĐKHKTT: Khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh V. Tạm trú: E8/3 đường T, thị trấn T, huyện BC, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Ấp 7, xã BS, huyện CL, tỉnh ĐT. Tạm trú: E8/3, đường T, thị trấn T, huyện BC, Thành phố H- có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH VLMT BH. Địa chỉ: Lô 107-108, Khu chế xuất và công nghiệp Linh Trung III, phường AT, thị xã Tr, tỉnh TN. Do ông Chen Wei H, sinh năm 1973; địa chỉ: 51-6-1 Wd, HT, WC, JP.RT– Chức vụ: Tổng Giám đốc – Đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: anh Bùi Thanh H, sinh năm 1995; địa chỉ: Tại 107-108, Khu chế xuất Linh Trung III, phường AT, thị xã Tr, tỉnh TN- là đại diện theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 03 tháng 11 năm 2021)- có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ trình bày:
Ông T làm việc tại công ty TNHH Vật liệu mỹ thuật BH (sau đây gọi tắt là công ty) từ ngày 01-6-2019, thời gian học việc là 02 tháng. Hai bên ký hợp đồng chính thức vào ngày 01-8-2019, thời hạn 01 năm đến ngày 31-7-2020, mức lương cơ bản là 3.970.000 đồng, trong hợp đồng không có ghi các khoản trợ cấp, phụ cấp nhưng ông T thực lãnh tiền lương là 8.300.000đồng; nhiệm vụ là công nhân kho.
Lý do ông T bị công ty cho thôi việc là vào ngày 12-02-2020 sau khi xuất hàng trong thời gian nghĩ giải lao, ông T có hút thuốc trong công ty và bị phát hiện. Sau đó, bộ phận nhân sự mời ông T lên làm việc và yêu cầu ông T ký vào 02 mẫu đơn là Điều khoản thôi việc do công ty làm sẵng và đơn xin từ chức có nội dung do công ty điền vào sau khi ông T ký tên.
Sau khi ông T nghĩ việc, công ty đã thanh toán lương đến ngày 12.02.2020 và đã chốt sổ BHXH giao trả lại ông T xong. Hiện nay ông T chưa có công việc khác nhưng ông T không đồng ý quay lại công ty làm việc. Do công ty cho ông T nghĩ việc không đúng quy định pháp luật. Nên nay ông T khởi kiện công ty yêu cầu :
1. Yêu cầu Tòa án tuyên bố Quyết định không số ngày 15-02-2020 về việc nghĩ việc để hưởng chế độ BHXH của công ty TNHH VLMT BH là trái pháp luật.
2. Yêu cầu công ty bồi thường các khoản sau:
- Tiền lương, BHXH, BHYT, BHTN trong thời gian ông T không được làm việc từ 16-02-2020 đến khi giải quyết xong vụ án tổng cộng là 63.827.000 đồng.
- Bồi thường 05 tháng lương và phụ cấp do đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động là 41.500.000 đồng.
- Bồi thường 30 ngày lương do vi phạm thời gian báo trước đối với hợp đồng xác định thời hạn là 9.576.000 đồng
Tổng cộng các khoản là 114.903.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị đơn anh Bùi Thanh H trình bày:
Xác nhận về thời gian ông T vào công ty làm việc, thời gian ký kết hợp đồng lao động, loại hợp đồng, mức lương theo hợp đồng và nhiệm vụ của ông T như lời trình bày của đại diện nguyên đơn là đúng.
Về mức lương thực lãnh của ông T đại diện nguyên đơn trình bày không đúng do mức lương này phụ thuộc vào thời gian tăng ca của người lao động. Ngoài ra, ngày 01-01-2020 công ty và ông T ký phụ lục hợp đồng tăng lương từ 3.970.000 đồng lên 4.194.400 đồng. Ông T nghĩ việc từ ngày 15-02-2020. Ông T có vi phạm trong việc ngủ trong giờ làm việc và hút thuốc tại cửa kho vào ngày 11-02-2020, công ty có lập biên bản vi phạm và ông T có ký tên vào biên bản. Ngoài lần này ra công ty không có lập biên bản vi phạm lần nào khác đối với ông T. Công ty cho ông T nghĩ việc theo nguyện vọng của ông T. Về việc thể hiện nguyện vọng nghỉ việc của ông T thì ngoài đơn xin từ chức và Điều khoản thôi việc thì không còn văn bản nào khác. Về đơn xin từ chức thật chất là đơn xin nghĩ việc. Đây là mẫu chung theo yêu cầu của chủ quản công ty từ Trung Quốc. Tại công ty, toàn bộ người lao động từ nhân viên văn phòng đến công nhân khi có yêu cầu nghĩ việc thì đều sử dụng mẫu này. Công ty đưa cho ông T ký đơn xin từ chức khi ông T có nguyện vọng nghĩ việc và trong quá trình làm đơn bộ phận nhân sự của công ty sẽ giải thích cho ông T nghe về đơn này.
Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T do Công ty cho ông T nghĩ việc là theo yêu cầu, nguyện vọng của ông chứ công ty không đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay xử lý kỷ luật gì đối với ông T cả.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
- Về nội dung: Căn cứ các Điều 36, 37 Bộ luật lao động 2012; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” của ông Nguyễn Minh T đối với Công ty TNHH Vật Liệu mỹ thuật BH, về việc yêu cầu tuyên bố Quyết định nghĩ việc ngày 15-02-2020 là trái pháp luật và bồi thường số tiền 114.903.000 đồng.
Về án phí: miễn án phí lao động sơ thẩm cho ông Nguyễn Minh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Ông Nguyễn Minh T khởi kiện công ty TNHH VLMT BH đòi bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Toà án thụ lý giải quyết theo điểm d khoản 1 Điều 32 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp lao động là 01 năm kể từ ngày phát hiện quyền và lợi ích của mình bị vi phạm theo quy định tại khoản 3 Điều 190 Bộ luật lao động. Trong vụ án này, ông T được công ty TNHH VLMT BH cho nghỉ việc ngày 15-02-2020 nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất ông T vào làm việc tại công ty TNHH Vật liệu mỹ thuật BH (sau đây gọi tắt là công ty) từ ngày 01-6-2019, thời gian học việc là 02 tháng. Hai bên ký hợp đồng chính thức vào ngày 01-8-2019, thời hạn 01 năm đến ngày 31-7-2020, mức lương cơ bản là 3.970.000 đồng; nhiệm vụ là công nhân kho. Đến ngày 15-02-2020 ông T nghĩ việc tại Công ty. Tiền lương và sổ BHXH công ty đã trả cho ông T xong.
Xét hợp đồng lao động giữa ông T và công ty TNHH VLMT BH: Nội dung hợp đồng lao động không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các đương sự ký kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Vì vậy, nội dung hợp đồng lao động là hợp pháp.
Các đương sự đều có đủ năng lực chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng; vì vậy, hợp đồng lao động hợp pháp về chủ thể. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hợp pháp về hình thức.
Về mức lương của ông T, qua lời trình bày của các bên và qua xác minh tại Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng xác định từ tháng 8-2019 đến 12-2019 mức lương đóng BHXH của ông T là 3.970.000 đồng và tháng 01-2020 mức lương đóng BHXH của ông T là 4.194.400 đồng. Việc đại diện nguyên đơn trình bày mức lương thực lãnh của ông T là 8.300.000 đồng nhưng lại không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ xem xét.
Xét yêu cầu của ông T: qua làm việc các bên đều thừa nhận ngày 12-02-2020 ông T có hành vi vi phạm là hút thuốc trong công ty và bị phát hiện. Tuy nhiên, công ty không có xử lý kỷ luật ông T. Công ty cho rằng ông T có nguyện vọng xin nghĩ việc; do đó đã ký vào mẫu đơn xin từ chức và Điều khoản thôi việc của công ty; nên ngày 15-02-2020 công ty đã ban hành Quyết định về việc nghĩ việc để hưởng chế độ BHXH cho ông T. Đại diện ông T, anh Đ trình bày ông T có ký vào 02 mẫu đơn là Điều khoản thôi việc do công ty làm sẵng và đơn xin từ chức có nội dung do công ty điền vào sau khi ông T ký tên nhưng ông không có nguyện vọng muốn nghĩ việc. Ông T không biết việc ký vào các mẫu đơn này là sẽ nghĩ việc. Tuy nhiên, nguyên đơn lại không có chứng cứ chứng minh việc ông T bị lừa dối ký tên vào hai mẫu đơn xin từ chức và Điều khoản thôi việc của công ty là cơ sở để công ty TNHH VLMT BH ban hành Quyết định về việc nghĩ việc để hưởng chế độ BHXH cho ông Nguyễn Minh T. Sau khi nhận được quyết định nghĩ việc ông T cũng không có khiếu nại gì về quyết định này cả. Từ đó cho thấy, các bên đã tự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động giữa hai bên. Do đó, yêu cầu của ông T là không có cơ sở chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện Kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Ông T được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 22, 36, 37 Bộ luật lao động 2012; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh T về “Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” đối với Công ty TNHH Vật Liệu mỹ thuật BH.
2/ Về án phí: Ông T được miễn án phí lao động sơ thẩm.
Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Như Thủy |