- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "PH + công ty C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Đinh Vạn PH, sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/LĐ-PT Ngày: 16-12-2022 “V/v Tranh chấp về đòi tiền thưởng, tiền hoa hồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đăng
Các Thẩm phán:
Ông Lâm Triệu Hữu
Ông Phạm Trường Thọ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 03/2022/LĐ-PT ngày 17 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về đòi tiền thưởng, tiền hoa hồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2022/LĐ-ST ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2022/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Định Vạn Ph, sinh năm 1982
Địa chỉ: đường số A, khóm 3, phường B, TP BL, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Bị đơn: Công Ty C
Người đại diện theo pháp luật: Ông M, sinh năm 1976 – Tổng giám đốc (có mặt).
Địa chỉ công ty: Lô I, KCN BM, ấp MH, xã MH, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện theo ủy quyền:
1/ Ông Dương Linh N - Giám đốc kinh doanh (có mặt).
2/ Chị Lê Thị Thảo T1, sinh năm 1992 – nhân viên (có mặt).
3/ Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1995 – nhân viên (có mặt).
(Theo văn bản ủy quyền ngày 14/02/2022).
- Người làm chứng:
Ông Đỗ Minh T2, sinh năm 1992 – Nhân viên kinh doanh Công Ty C (có mặt).
Địa chỉ công ty: Lô I, KCN BM, ấp Mỹ Hưng 2, xã Mỹ Hòa, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long.
- Người phiên dịch:
Bà Văn Tuyết T3 – Cộng tác viên Phòng tư pháp thành phố Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/4/2021 và các lời trình bày tại phiên Tòa nguyên đơn trình bày nội dung:
Ngày 24/10/2020 anh PH được Công ty C (gọi tắc là Công ty). Địa chỉ: Lô l, KCN BM, ấp Mỹ Hưng 2, xã Mỹ Hòa, thị xã BM, tỉnh Vĩnh Long, theo Hợp đồng thử việc (từ ngày 26/10/2020 đến ngày 26/11/2020) nhận vào làm việc, là Giám Đốc vùng, phụ trách kinh doanh thị trường tỉnh Bạc Liêu; nhiệm vụ là phụ trách kinh doanh thị trường thức ăn thủy sản với tổng mức lương cơ bản 12.000.000đồng/1 tháng; chi phí công tác 14.000.000đồng/1 tháng, tiền hoa hồng 300đ/kg.
Đến ngày 27/11/2020 anh PH và Cty ký hợp đồng lao đông số 537, thời hạn là 12 tháng (từ ngày 27/11/2020 đến ngày 27/11/2021), lương, phụ cấp, tiền hoa hồng được quy định trong hợp đồng lao động. Trong quá trình làm việc, anh PH luôn thực hiện tốt giờ giấc và báo cáo công việc hàng ngày theo yêu cầu của Công ty, trong thời gian làm việc anh đã tiếp xúc mở được 5 đại lý tìm năng có mời Tổng giám đốc chứng kiến (Sếp Trần) và Giám đốc kinh doanh (anh Dương Linh Nôi) xuống gặp gở và đàm phán chính sách với đại lý (do khi đó là cuối năm nên các đại lý đang chốt công nợ của các công ty thức ăn đang hợp tác nên chưa nhận hàng hợp tác của Cty Newhope được) vì còn liên quan đến chiếc khấu bán 1 mặt hàng, nên lúc này đại lý hợp tác nhận hàng bấc kỳ Công ty thức ăn nào sẽ bị trừ mất chiếc khấu 1kg thức ăn là 500đồng.
Tuy nhiên, các đại lý cũng đã nói rỏ vấn đề này trực tiếp với Cty Newhope và anh PH đã có giải trình với Công ty nhưng khi hợp tổng kết năm Cty vào ngày 03-01-2021 anh PH có trình bày báo cáo tất cả mọi việc của thị trường tỉnh Bạc Liêu thì được Sếp tổng (là ông Trần) có cho anh thêm thời gian 3 tháng nữa để mở đại lý mới và anh đồng ý. Nhưng sau khi về thị trường Bạc Liêu thì ông Dương Linh Nôi ép trong tháng 1 phải mở 2 đại lý mới, đến ngày 10/01/2021 thì Cty chuyển lương giữ lại 50% tiền thưởng (28.158.000đồng) sản lượng tháng 12/2020, đến ngày 23/01/2021 thì anh được văn phòng điện thoại cho hay là anh được kết thúc công việc vì không làm tròn công việc; Trong khi đó anh đang có đại lý chuẩn bị hợp tác nhận hàng.
Sau đó anh PH có hỏi văn phòng lý do nào cho nghỉ việc thì Cty chỉ nói là do a Nôi kêu vậy, chứ không ai trả lời cho biết lý do. Ngay lúc đó anh bị loại ra khỏi nhóm Zalo của Cty (nhóm theo dõi sản lượng, nhóm báo cáo công việc, nhóm báo cáo nhân viên…). Trong tháng 01 năm 2021 không còn gì để đối chiếu bằng chứng sản lượng (chỉ nhớ khoảng 65 tấn thức ăn), văn phòng bảo anh phải viết đơn tự nghỉ việc gửi về Cty để được thanh toán tiền lương, thưởng đầy đủ nhưng đến ngày 04/2/2021 chỉ nhận được số tiền 9.000.000đồng tiền lương, công tác phí đến ngày 09/2/2021 nhận được số tiền 7.662.000đồng tiền lương, kế toán Cty báo là trong tháng 1 anh được cho nghỉ việc tất cả sản lượng, hoa hồng sẽ hủy bỏ không trả, còn tiền sản lượng trong tháng 12 năm 2020 thì Cty giữ lại 50% số tiền 28.158.000đồng, có bảng lương kèm theo, kế toán cũng không cho biết lý do, chỉ nói Sếp Tổng không ký lệnh chuyển tiền.
Sau đó anh PH đã gửi đơn về Sở Lao Động Thương Binh và Xã hội Vĩnh Long thì ngày 22/02/2021 anh được hướng dẫn là phải làm đơn gửi cho Cty trước để hòa giải, đến ngày 09/3/2021 anh nhận được công văn trả lời từ Cty Newhope cho rằng đã trả đầy đủ lương, công tác phí nhưng tiền sản lượng tháng 12 và tiền hoa hồng tháng 01/2021 Cty không đồng ý trả.
Từ những lý do nêu trên, anh Đinh Vạn PH khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Cty Newhope trả tiền hoa hồng đã giữ lại 50% của tháng 12/2020 với số tiền là: 28.158.000đồng và tiền hoa hồng sản lượng của tháng 01/2021 khoảng 65 tấn thàng tiền là: 18.300.000đồng. Tổng số tiền là: 46.458.000đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi tám ngàn đồng). Ngoài ra anh PH không yêu cầu yêu cầu thêm.
* Ông Dương Linh Nôi, chị Lê Thị Thảo T1 là người đại diện theo ủy quyền của Cty TNHH Newhope Vĩnh Long trình bày:
Căn cứ hợp đồng thử việc số 516/HĐTV/NH từ ngày 26/10/2020 đến ngày 26/12/20220;
Căn cứ HĐ lao động số 537/HĐLĐ/NH-VL, từ ngày 27/12/2020 đến ngày 27/12/2021.
Quyết định thôi việc số 219/NHVL/QĐTV, ngày 23/01/2021. Với lý do; Phương án kinh doanh: Là cơ sở để quản lý, chấm công, tính lương, tính thưởng cho nhân viên bộ phận kinh doanh. Ông Đinh Vạn PH đúng là nhân viên của Cty TNHH NewHope Vĩnh Long giữa chức vụ trưởng vùng bậc 3 khu vực tỉnh Bạc Liêu, thuộc bộ phận kinh doanh thức ăn Tôm. Theo đó ông PH có trách nhiệm: Phụ trách chấp hành chiến lược kinh doanh và phục vụ khách hàng ở khu vực được giao, dẫn đắt tiểu đội hoàn thành mục tiệu được giao, bao gồm: Sản lượng, khai phá đại lý mới, hộ nuôi, hội thảo, ao điểm, xây dựng đội ngũ và mục tiêu kinh doanh của thị trường cấp vùng.
Cam kết công việc, tình hình hoàn thành nhiệm vụ Cty giao cho ông PH như sau:
+ Tháng 11/2020 chỉ tiêu giao: Tổng sản lượng khu vực Bạc Liêu phải đạt 110 tấn; Chỉ hoàn thành được 65,08 tấn. Mở lại lý mới 3 nhưng không có mở được đại lý; Ao điểm là 04; không có; Hội thảo là 05; không có.
+ Tháng 12/2020 chỉ tiêu giao: Tổng sản lượng khu vực Bạc Liêu phải đạt 135 tấn; Chỉ hoàn thành được 75,71 tấn. Mở lại lý mới 3 nhưng không có mở được đại lý; Ao điểm là 02;
+ Tháng 01/2021 chỉ tiêu giao: Tổng sản lượng khu vực Bạc Liêu phải đạt 100 tấn; Chỉ hoàn thành được 61,07 tấn. Mở lại lý mới 3 nhưng không có mở được đại lý; Ao điểm là 02; không có; Hội thảo là 01; không có.
Qua thống kê cho thấy ông PH đã không hoàn thành được nhiệm vụ công việc của Cty giao cho. Cá nhân không có sản lượng, không mở được đại lý mới, không mở được hộ nuôi, phương pháp quản lý không tốt, không hỗ trợ được nhận viên trong vùng, dẫn đến cả khu vực Bạc Liêu liên tục giảm sản lượng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao trong 3 tháng liên tiếp, ngoài ra còn làm đội ngũ nhân sự biến động (giảm từ 07 người xuống còn 1 người).
Theo nội dung phương an kinh doanh và sản lượng thực tế của ông PH thì Cty đã phát đủ lương và thưởng qua các tháng cho ông PH như sau:
+ Tháng 11 năm 2020 đã phát: Lương và các khoản trợ cấp khác số tiền là: 12.000.000đồng (do không hoàn thành nhiệm vụ nên không phát thưởng).
+ Tháng 12 năm 2020 đã phát: Lương và các khoản trợ cấp khác số tiền là: 12.000.000đồng, tiền thưởng sản lượng là: 28.158.000đồng (theo phương án kinh doanh, không hoàn thành nhiệm vụ sản lượng sẽ không được tính thưởng, nhưng xét thuộc trường hợp hỗ trợ cấp quản lý mới nhận việc, đào tạo để phát triển thị trường đặt biệt phê duyệt hỗ trợ 50% tiền thưởng quý 4 năm 2020 (tháng 10, 11, 12) đã giữ lại số tiền 28.158.000đồng của ông PH. .
+ Tháng 01 năm 2021 đã phát: Lương và các khoản trợ cấp khác tính đến ngày 22/01/2021 số tiền là: 7.662.000đồng (do sản lượng thống kê đến ngày thôi việc 22/01/2021, không hoàn thành nhiệm vụ sản lượng (mục tiêu sản lượng tháng 01/2021 là 100 tấn, nhưng chỉ đạt 61,07 tấn) nên không phát thưởng số tiền 18.300.000đồng.
Sau thời gian thử thách công việc từ ngày 26/10/2020 đến ngày 22/01/2021 Cty nhận thấy ông PH hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu thị trường, không đủ năng lực để đảm bảo nhiệm vụ trưởng vùng bậc 3 khu vực Bạc Liêu. Từ khi nhận việc, ông PH không tìm thêm được đại lý mới, không có sản lượng, những kết quả của ông PH có được điều nhờ vào sản lượng của những đại lý của Cty đã khai phá trước đó, vì vậy việc tính và phát thưởng như trên là hoàn toàn hợp lý, đồng thời Cty đã hoàn thành nghĩa vụ trả lương và các khoản trợ cấp khác theo đúng hợp đồng đã cam kết và phù hợp với Luật lao động.
Vì vậy; Cty không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vạn PH, Cty cho ông PH nghĩ việc và giữ lại 50% tiền hoa hồng sản lượng của 12/2020 là đúng theo hợp đồng lao động và phương án kinh doanh, khảo hạch lương thưởng 2020 của Cty.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2022/LĐ-ST ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã BM đã quyết định:
Căn cứ các Điều 32; 33; điểm c khoản 1 Điều 35; Điều 39; 92; 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 13; 14; 15; 20; 21; điểm b khoản 2 Điều 36; 45; 48; 104; 122; 187 Bộ luật lao động năm 2019. Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đinh Vạn PH;
Buộc Cty TNHH New Hope Vĩnh Long có trách nhiệm chi trả cho anh Đinh Vạn PH tổng số tiền: 46.479.000đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bảy mươi chính ngàn đồng); (trong đó, tiền hoa hồng của tháng 12 năm 2020 là 28.158.000đồng + tháng 01 năm 2021 là 18.300.000đồng).
2/ Án phí lao động sơ thẩm:
- Buộc Cty TNHH New Hope Vĩnh Long phải chịu số tiền án phí lao động là: 1.394.000đồng (một triệu ba trăm chính mươi bốn nghìn đồng).
- Anh Đinh Vạn PH không phải chịu tiền án phí. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 1.191.000đồng (một triệu một trăm chín mươi một nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010897, ngày 14 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã BM.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, bị đơn là Công ty C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Công ty C cho rằng Tòa án nhân dân thị xã BM đã xem xét, đánh giá chứng cứ không khách quan; Công ty C không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Vạn PH về việc yêu cầu Công ty C chi trả số tiền 46.479.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là chỉ yêu cầu công ty trả số tiền 50% tiền thưởng hoa hồng của tháng 12/2020 là 28.158.000 đồng và thống nhất yêu cầu của bị đơn là thừa nhận thiếu xót trong công việc.
Bị đơn Công ty C trình bày: thống nhất yêu cầu của anh PH và đồng ý trả cho anh PH số tiền 28.158.000 đồng nhưng anh PH phải thừa nhận thiếu xót trong công việc.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Phân tích nội dung, chứng cứ và đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là Công ty C có trách nhiệm trả cho anh Đinh Vạn PH số tiền là 28.158.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ được thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ; ý kiến trình bày của các đương sự; Căn cứ vào kết quả tranh luận và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty C còn trong hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận là Công ty C có trách nhiệm trả cho anh Đinh Vạn PH số tiền là 28.158.000 đồng.
Xét việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chấp nhận kháng cáo của chị anh PH, sửa án sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn nộp theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty C nộp theo quy định của pháp luật.
Chi phí người phiên dịch: Công ty C tự nguyện trả.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Đinh Vạn PH, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 32; 33; điểm c khoản 1 Điều 35; Điều 39; 92; 147; 300 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 13; 14; 15; 20; 21; điểm b khoản 2 Điều 36; 45; 48; 104; 122; 187 Bộ luật lao động năm 2019. Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Cty TNHH New Hope Vĩnh Long có trách nhiệm trả cho anh Đinh Vạn PH số tiền là 28.158.000 đồng (Hai mươi tám triệu một trăm năm mươi tám ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, tương ứng với thời gian chư thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm: Cty TNHH New Hope Vĩnh Long nộp 1.407.900 đồng (một triệu bốn trăm lẽ bảy ngàn chín trăm đồng).
3/ Án phí dân sự phúc thẩm: Cty TNHH New Hope Vĩnh Long nộp 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0012767 ngày 22/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã BM. Cty TNHH New Hope Vĩnh Long không phải nộp tiếp
4/ Chi phí phiên dịch: 1.000.000 đồng (một triệu đồng), Cty TNHH New Hope Vĩnh Long tự nguyện trả.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao: 01; - VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02; - Chánh án: 01; - TAND TXBM: 01; - THADS TXBM: 01; - Các đương sự; - Lưu: 06; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đăng |