vanban.org

Bản án 01/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần K. Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2017/KDTM-ST ngày 30/08/2017 của Tòa án nhân dân thị xã A, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH T tranh chấp HĐ mua bán hàng hóa với Công ty TNHH H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Luật Doanh nghiệp; Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/KDTM-ST
Ngày: 14/01/2022
V/v: "Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hoàng Văn Tiến

2. Bà Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Anh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2021/TLST-KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2021/QĐXXST-KDTM ngày 24 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH T (viết tắt: Công ty T); Địa chỉ: Quốc lộ A, thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L – Giám đốc. Ông L có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH H (Viết tắt: Công ty H). Địa chỉ: thôn A, xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hải S – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền hiện tại: Bà Nguyễn Thị Thu H – Kế toán trưởng Công ty TNHH H. (Được ủy quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 12/11/2021 từ ông Nguyễn Hải S – Giám đốc. Ông Sơn vắng mặt, bà Hà có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn – Công ty T trong đơn khởi kiện, trong các văn bản tố tụng và trong các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa trình bày:

Ngày 09/5/2019, Công ty TNHH T và Công ty TNHH H ký hợp đồng kinh tế số 21/2019/HĐKT. Theo đó, Công ty Thăng Long (bên bán) thỏa thuận bán cho công ty H (bên mua) mặt hàng: Lốp, Săm, Yếm xe ô tô tải. Phương thức thanh toán giao nhận hàng theo từng lần căn cứ vào nhu cầu của bên mua. Phương thức thanh toán: Trả chậm vào cuối tháng khi bên B xuất hóa đơn GTGT thì bên mua có trách nhiệm thanh toán toàn bộ tiền hàng. Mức dư nợ trả chậm không quá 500.000.000 đồng/tháng. Ngày 28/6/2019 Công ty T đã xuất hóa đơn GTGT số: 00049 cho Công ty Hải Sơn trị giá: 300.000.000đ. Ngày 25/9/2019 Công ty T đã xuất hóa đơn GTGT số: 00061 cho Công ty H trị giá: 937.900.000đ. Tổng giá trị hàng hóa mà công ty T đã xuất cho công ty H là: 1.237.900.000đ. Tính đến ngày 23/11/2021, Công ty H chỉ mới thanh toán cho công ty T số tiền: 770.000.000đ. Số tiền hàng còn lại chưa thanh toán: 467.900.000đ. Số tiền lãi phát sinh do Công ty H đã vi phạm hợp đồng, cố ý chây lì, chiếm dụng vốn của nguyên đơn đã hơn 2 năm qua (lãi suất 12%/năm), mức lãi suất tiền vay không thế chấp theo quy định của ngân hàng) nhưng tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu lãi 10%/năm theo luật định,tính đến ngày xét xử 14/01/2022 là: 183.477.235đ. Tổng số tiền công ty T yêu cầu công ty H phải trả là: 651.377.235đ.

* Đại diện của bị đơn – Công ty TNHH H trình bày: Vào tháng 6 năm 2019 Công ty Hải Sơn có ký hợp đồng mua bán lốp với công ty T. Ngày 14 tháng 6 năm 2019 công ty H có chuyển khoản tạm ứng trước tiền mua hàng cho công ty T vào tài khoản 53110000073996 ngân hàng BIDV Quảng Bình số tiền 300.000.000đ. Đến ngày 25 tháng 09 năm 2019 công ty T nhập hàng và xuất hóa đơn cho công ty H theo hóa đơn số 0000061 với số tiền hàng là 852.636.358đ, tiền thuế GTGT là: 85.263636đ, tổng tiền là: 937.900.000đ. Sau thời gian ngắn sử dụng lốp hay bị hư hỏng, cụ thể là lốp nổ, nên công ty H có gọi điện báo với giám đốc công ty T để hai bên cùng giải quyết, nhưng phía bên công ty T báo với công ty H chờ công ty T giải quyết. Sau đó công ty H gọi điện thông báo ngừng cung cấp hàng và ngừng thanh toán lô hàng trên, đến khi hai bên thống nhất được số lốp hư hỏng trên. Ngày 28/12/2019 công ty H vận chuyển máy xúc DOOSAN 300 từ Hà Nội vào Quảng Bình cho công ty T với giá 20.000.000đ xuất hóa đơn số 0000661 ngày 16 tháng 01 năm 2020, công ty T chưa thanh toán cho công ty H nên Công ty H đưa vào đối trừ công nợ theo sổ chi tiết thanh toán với người mua năm 2021.

Trong năm 2020 do dịch bệnh khó khăn nên công ty H không thanh toán cho công ty T, năm 2021 công ty H đã thanh toán cho công ty T tổng số tiền là 450.000.000đ (chi tiết có ủy nhiệm chi kèm theo). Như vậy tính đến ngày 13 tháng 12 năm 2021 công ty H còn nợ công ty T số tiền là: 167.900.000đ kèm theo sổ chi tiết thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết và cũng là nơi bị đơn có đăng ký trụ sở hoạt động kinh doanh. Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35; Điều 39. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập làm bản tự khai, khi tiến hành hòa giải thì bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vì các bên đã nhiều lần làm việc nhưng bên bị đơn cố tình chây ì, không hợp tác. Vụ án thuộc trường hợp hòa giải không được. Ngày 14/01/2022 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định xét xử số 151/2021/QĐST-KDTM ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới

. Về nội dung:

Về yêu cầu thanh toán số tiền hàng còn nợ theo hợp đồng: Căn cứ vào Hợp đồng kinh tế số 21/2019/HĐKT được ký kết giữa hai bên Công ty TNHH T và Công ty TNHH H và các chứng cứ có trong hồ sơ xác định được giữa hai công ty có sự ký kết thỏa thuận trong việc mua bán lốp, săm, yếm. Quá trình thực hiện hợp đồng, thời gian đầu các bên đã thực hiện đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng, tuy nhiên sau thì phát sinh vi phạm nên Công ty T đã khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp. Theo bảng giao nhận hàng (có chữ ký của bên nhận) và tại bảng kê chi tiết công nợ do nguyên đơn cung cấp xác định số hàng mà công ty T đã chuyển cho công ty H có giá là 1.237.900.000đ; Ngày nhận hàng đầu tiên là 08/6/2019, ngày nhận hàng cuối cùng là 29/7/2019, công ty T đã xuất 02 hóa đơn GTGT, lần 1: 300.000.000đ ngày 28/6/2019 và lần 2: 937.900.000đ ngày 25/9/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H đã 5 lần chuyển trả tiền hàng cho công ty T với tổng số tiền 750.000.000đ (ngày 14/6/2019: 300.000.000đ, ngày 07/01/2021: 100.000.000đ; ngày 09/02/2021: 150.000.000đ; 28/9/2021: 100.000.000đ; ngày 18/11/2021: 100.000.000đ). Tháng 12/2019 phía công ty H có vận chuyển máy xúc DOOSAN 300 từ Hà Nội vào Quảng Bình cho công ty T với giá 20.000.000đ xuất hóa đơn số 0000661 ngày 16 tháng 01 năm 2020, nay công ty T đồng ý đối trừ vào công nợ của công ty H.

Phía công ty H cho rằng công ty T chỉ mới chuyển hàng và xuất hóa đơn có giá trị 937.900.000đ. còn hóa đơn GTGT có giá 300.000.000đ phía công ty H chưa nhận được, việc chuyển số tiền 300.000.000đ vào ngày 14/6/2019 là cho công ty T ứng trước tiền hàng. HĐXX nhận thấy: tại Hợp đồng số 21 mà hai bên đã ký có nội dung về phương thức thanh toán “Cuối tháng phát sinh đó, kế toán hai bên đối chiếu công nợ và bên B (công ty T) xuất hóa đơn GTGT cho bên A (công ty H). Khi bên A xác định đúng công nợ và nhận được hóa đơn GTGT mà bên B xuất thì bên A có trách nhiệm thanh toán cho bên B toàn bộ số tiền hàng đã đối chiếu có xác nhận của hai bên”.Thực tế, điều này cũng phù hợp tương ứng với số hàng mà công ty T chuyển có bên công ty H đã ký nhận. Tại Ủy nhiệm chi ngày 14/6/2019 do công ty H cung cấp tại tòa án có nội dung thể hiện “Chuyển trả tiền lốp” với số tiền 300.000.000đ. Như vậy nội dung đã rõ ràng, không phải là ứng tiền lốp.

Tại Bảng xác nhận giao nhận hàng đã thể hiện từ ngày 09/5/2019 đến ngày 29/7/2019 tổng số hàng mà phía công ty H nhận có giá là 1.237.900.000đ.

Tại bảng quyết toán thuế năm 2019 của công ty T đã có mục quyết toán theo hóa đơn GTGT có giá 300.000.000đ với công ty H. Nhưng phía công ty H không xuất trình được bảng quyết toán thuế của công ty H năm 2019 để xác định có hạng mục nói trên không.

Từ những phân tích ở trên, xác định lời khai của Công ty T là hoàn toàn có căn cứ, cần chấp nhận, với số tiền hàng còn nợ: 1.237.900.000đ – 750.000.000đ - 20.000.000đ = 467.900.000đ để buộc công ty Hải Sơn phải trả cho công ty T.

. Về phần tiền lãi chậm thanh toán:

Tại Hợp đồng kinh tế số: 21/2019/HĐKT được ký kết giữa hai bên Công ty TNHH T và Công ty TNHH H các giấy tờ có trong hồ sơ không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả nợ nhưng khi có tranh chấp xảy ra và nguyên đơn đề nghị tính lãi chậm trả thì căn cứ vào Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 qui định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Như vậy, các bên không có thỏa thuận về lãi. Căn cứ vào mức lãi suất quá hạn trung bình của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Quảng Bình gồm Agribank, Vietcombank, Vietinbank tại thời điểm xét xử. Theo bảng tính lãi theo từng giai đoạn trên từng số tiền còn lại chậm trả mà công ty T cung cấp với lãi suất yêu cầu tính là 10%/năm, tức là dưới mức lãi suất quá hạn trung bình của ba ngân hàng nói trên nên cần ghi nhận. Ngày 25/9/2019 là ngày phía bên công ty T xuất hóa đơn GTGT sau cùng cùng là ngày phải thanh toán tiền theo hóa đơn nhưng phía công ty H không thực hiện nghĩa vụ nên bắt đầu tính lãi chậm trả. HĐXX thấy đủ cơ sở để chấp nhận số tiền lãi là 183.477.235đ

Như vậy số tiền tạm tính đến ngày xét xử cần chấp nhận theo yêu cầu của nguyên đơn là: 651.377.235 đồng.

Tiếp tục tính lãi từ ngày 15/01/2022 cho đến ngày thanh toán xong khoản tiền hàng chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 35; Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 357; 385; 386; 398; 401; 430; 436; 440 Bộ luật dân sự;

- Áp dụng Điều 306 Luật Thương mại;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T.

1.1. Buộc Công ty TNHH H phải trả cho Công ty TNHH T số tiền tính đến ngày 14/01/2022 là: 651.377.235 đồng (trong đó: tiền mua hàng còn nợ 467.900.000 đồng và nợ lãi 183.477.235 đồng)

1.2. Từ ngày 15/01/2022 cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi, hàng tháng Công ty TNHH H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Án phí:

2.1. Bị đơn Công ty TNHH H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 30.055.089 đồng.

2.2. Nguyên đơn Công ty TNHH T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 17.574.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 31AA/2021/0001049 ngày 29/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ