vanban.org

Bản án 01/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần L đối với bà Diệp Lê Anh T.

Bà Diệp Lê Anh T có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần L tiền vận chuyển hàng hóa còn nợ gốc 979.302.000đ và tiền lãi 522.058.000đ. Tổng cộng gốc và lãi 1.501.360.000đ ( Một tỷ năm trăm lẻ một triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần L đối với bà Diệp Lê Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 233 Luật Thương mại; Điều 234 Luật Thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/KDTM-ST
Ngày 17-6-2022.
V/v Tranh chấp hợp đồng
vận chuyển hàng hóa

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Doãn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Công Khanh

2. Ông Nguyễn Hữu Phúc

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục là Thư ký Toà án Nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2022/TLST-KDTM ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31A/2022/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông. Quyết định hoãn phiên tòa số 22A/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2022. Giữa:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần L.

Địa chỉ: Trần N, khu p, phường B, quận V, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn H. Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Địa chỉ: Lầu Z, tòa nhà H, Hàm N, phường B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Khôi N, sinh năm 1972.

Địa chỉ: thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Diệp Lê Anh T. Chức vụ: Giám đốc.

Là chủ sở hữu, người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV C.

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Bị đơn bà Diệp Lê Anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm của người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần L ông Đỗ Khôi N trình bày:

Vào năm 2015 Công ty cổ phần L (tên củ là Công ty Cổ phần vận tải H) ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa số 46/VTHT/DVBX ngày 01/6/2015 bốc xếp cát, đá và Hợp đồng số 48/VTHT/DVVC ngày 01/7/2015 vận chuyển cát xây dựng với Công ty TNHH MTV C do bà Diệp Lê Anh T là chủ sở hữu, là người đại diện pháp luật. Công ty cổ phần Logistics Vicem đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao hàng đầy đủ theo hợp đồng. Đến ngày 31/5/2015 hết hạn hợp đồng, tổng số tiền Công ty TNHH MTV C phải thanh toán cho Công ty cổ phần L là 1.671.934.000đ, sau đó bà T đã thanh toán cho Công ty cổ phần L số tiền 692.632.000đ, còn lại 979.302.000đ đến nay bà T chưa thanh toán cho Công ty. Hôm nay Công Ty cổ phần L yêu cầu bà Diệp Lê Anh T phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại, đồng thời bà T phải chịu lãi phát sinh như hợp đồng đã ký, theo mức lãi suất quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả theo nội dung trong hợp đồng. Thời gian tính từ ngày 31/12/2015 đến ngày 30/4/2021, tiền lãi là 522.058.000đ, tổng cộng gốc và lãi là 1.501.360.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Diệp Lê Anh T là Giám đốc Công ty TNHH MTV C đã được Tóa án niêm yết đầy đủ các thủ tục như: Thông báo thụ lý số: 02/TB-TLVA ngày 17/02/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 74/TB-TA ngày 06/4/2022; Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử số 20/2022/QĐ-GH ngày 15/4/2022; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ số 16/TB-TA ngày 22/4/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 54/TB-TA ngày 22/4/2022; 03 số báo Công lý từ ngày 15/4/2022 đến ngày 22/4/2022; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ số: 18/TB-TA ngày 09/5/2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31A/QĐXXST-KDTM ngày 09/5/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 22A/QĐST-DS ngày 26/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông nhưng bà Diệp Lê Anh T không có ý kiến trình bày của mình và cũng không đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tam Nông nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Công ty cổ phần L. Địa chỉ: Trần N, khu p, phường B, quận V, thành phố Hồ Chí Minh nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa” đối với bà Diệp Lê Anh T là Giám đốc Công ty TNHH MTV C. Xét thấy người khởi kiện và đã thực hiện đúng về thủ tục khởi kiện theo quy định tại các Điều 186,188,189,190 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn địa chỉ tại ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật: Công ty cổ phần L khởi kiện bà Diệp Lê Anh T trả số tiền vận chuyển hàng hóa cho Công ty cổ phần L số tiền còn nợ gốc 979.302.000đ và tiền lãi chậm trả là 522.058.000đ, tổng cộng gốc và lãi là 1.501.360.000đ. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa được quy định tại Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về xét xử vắng mặt: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, bị đơn bà Diệp Lê Anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu khởi kiện: Công ty cổ phần L tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa với Công ty TNHH MTV C do bà Diệp Lê Anh T là giám đốc ký hai hợp đồng số 46/VTHT/DVBX ngày 01/6/2015 bốc xếp vận chuyển cát, đá và Hợp đồng số 48/VTHT/DVVC ngày 01/7/2015. Bà Anh T đã thanh toán số tiền thuê vận chuyển hàng hóa vào ngày 14/01/2016 cho Công ty là 692.632.000đ, còn nợ lại số tiền 979.302.000đ đến nay chưa thanh toán. Công ty nhiều lần yêu cầu bà T thanh toán số tiền còn lại nhưng bà T cố tình vắng mặt, Công ty đã nhiều lần tìm kiếm và có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tam Nông Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú vào năm 2020 theo Quyết định số 02/2020/QĐST-VDS ngày 08/4/2020 nhưng bà T vắng mặt. Như vậy thời hiệu khởi kiện của Công ty đối với bà Diệp Lê Anh T vẫn còn và Tòa án thụ lý giải quyết đúng quy định.

Về nội dung:

Công ty cổ phần L yêu cầu bà Diệp Lê Anh T - Giám đốc Công ty TNHH MTV C có trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi 1.501.360.000đ theo hợp đồng số 46/VTHT/DVBX ngày 01/6/2015 bốc xếp cát, đá và Hợp đồng số 48/VTHT/DVVC ngày 01/7/2015. Xét yêu cầu của Công ty cổ phần L là có cơ sở chấp nhận. Vì: Trong hai hợp đồng mà bà Diệp Lê Anh T đã ký với Công ty cổ phần L hai bên thống nhất các nội dung đã ghi trong hợp đồng. Sau khi nhận hàng bà Anh T không thanh toán tiền đúng theo nội dung hai bên đã thoả thuận và được ghi trong hợp đồng, hai bên hoàn toàn tự nguyện, đủ năng lực hành vi dân sự, không trái với đạo đức xã hội, hợp đồng trên là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Tại phiên tòa bà Diệp Lê Anh T đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng bà T cố tình vắng mặt không tham dự phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ trong hồ sơ đã thu thập được để xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần L yêu cầu tính lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất 0,833%/tháng, thời gian từ 31/12/2015 đến ngày 30/4/2021 là có căn cứ chấp nhận. Vì: thời gian đã lâu mà bà Anh T không thanh toán số tiền còn lại cho Công ty cổ phần L nên bà phải chịu lãi của số tiền chưa thanh toán. Theo hợp đồng hai bên thoả thuận, ai vi phạm nghĩa vụ thanh toán cước phí vận chuyển thì phải chịu thanh toán tiền lãi trả chậm theo mức lãi suất vay ngắn hạn Ngân hàng trên tổng số nợ quá hạn của số tiền chưa thanh toán còn nợ là 979.302.000đ, thời gian từ 31/12/2015 đến ngày 30/4/2021 là 64 tháng. Hiện tại lãi suất quá hạn bình quân của ba Ngân hàng là 1,103%/tháng, nhưng Công ty chỉ yêu cầu tính theo mức lãi suất 0,833%/tháng theo hướng có lợi cho đương sự. Từ những căn cứ trên chấp yêu cầu tính lãi của Công ty cổ phần L đối với bà Diệp Lê Anh T là phù hợp. Tiền gốc và lãi được tính cụ thể như sau:

- Tiền gốc: 979.302.000đ x 0,833%/tháng x 64 tháng = 522.058.000đ tiền lãi. Tổng cộng gốc và lãi là 1.501.360.000đ ( Một tỷ năm trăm lẻ một triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng).

.Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 1.501.360.000 đồng được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các khoản 1 Điều 30, điểm b, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147 và Điều 254 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 233, 234, 235, 236 và Điều 306 của Luật Thương mại; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty cổ phần L đối với bà Diệp Lê Anh T.

2. Bà Diệp Lê Anh T có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần L tiền vận chuyển hàng hóa còn nợ gốc 979.302.000đ và tiền lãi 522.058.000đ. Tổng cộng gốc và lãi 1.501.360.000đ ( Một tỷ năm trăm lẻ một triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10% tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm:

- Bà Diệp Lê Anh T đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV C phải nộp số tiền: 57.040.000đ (Năm mươi bảy triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Công ty cổ phần L được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.520.000đ theo biên lai số 0003542, quyển số 0071, ngày 17/02/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn được biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Báo cho bị đơn vắng mặt được biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ