vanban.org

Bản án 01/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ Tuyên án 11/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Hải Đ phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vô ý làm chết người. - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Hải Đ phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HS-ST
Ngày: 11 – 01 – 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Hạnh; Ông Lý Văn Til

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2021/HSST ngày 22 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 76/2021/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1988. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: ấp, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965 (sống) và bà Trịnh Thị X, sinh năm 1964 (sống); Họ tên vợ: Huỳnh Thị Kim Kiều, sinh năm 1989; Con: 01 đứa sinh ngày 21/12/2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại. (Bị cáo có mặt)

- Người bị hại: Trịnh Văn B, sinh năm 1995 (Chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trịnh Văn L, sinh năm 1968 (Cha ruột Trịnh Văn B) (Có mặt)

Địa chỉ: ấp TA, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1971 (Vắng mặt)

+ Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

+ Bà Trịnh Thị X, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Cùng ngụ: ấp TA, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ.

+ Ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Thới Phong A, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ.

+ Bà Huỳnh Thị Kim K, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp TB, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian giãn cách xã hội không có việc làm nên Trịnh Văn B là em cô cậu của Nguyễn Hải Đ nhiều lần rủ Nguyễn Hải Đ dùng xung điện đi bắt cá. Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/8/2021, Nguyễn Hải Đ mang theo bộ công cụ xung điện gồm bình ắc quy, cục biến điện (cục xiệt), vợt, bình đeo trên lưng (bộ dụng cụ dùng để xiệt cá) đến nhà B rủ B cùng đi bắt cá. Đ là người mang bộ dụng cụ xiệt cá đeo trên lưng, B cầm xô đựng cá, cả hai đi từ nhà B ra vườn rồi đi về hướng Kênh Thủy Lợi 1, đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày Đ và B đi vào vườn của ông Nguyễn Hữu N ở ấp TA, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Lúc này Đ đi trước đeo bình ắc quy và bộ xung điện trên lưng, vai phải vác hai thanh trúc gắn vào vợt dùng để chích điện hướng ra sau, nguồn điện vẫn còn gắn vào bình ắc quy chỉ hở ở công tắc. Đ khom người chui qua sợi dây chì giăng nối từ trụ bê tông kéo xuống đất thì đầu vợt bị vướng vào dây chì, Đ không quay lại xem mà dùng tay phải đang cầm giữ hai thanh trúc gắn với phần vợt dùng để chích điện kéo về phía trước thì nghe tiếng B la “ớ” lên ở phía sau. Đ quay lại thì thấy B nằm ngã ngữa trên mặt đất, mắt trợn, thở gấp. Đ kéo B ra nơi gần đó để sơ cứu, hô hấp nhân tạo nhưng B ngày càng thở nhẹ nên Đ truy hô nhờ những hộ dân xung quanh cứu giúp. Anh Nguyễn Thanh Thảo ở nhà gần đó nghe nên gọi điện trình báo Công an thị trấn Thới Lai. Sau đó lực lượng Công an thị trấn Thới Lai đến giữ hiện trường và đưa B đến Trung tâm Y tế huyện Thới Lai cấp cứu nhưng B đã tử vong trước đó.

Ngày 03/8/2021, Cơ quan điều tra tiến hành đo dòng điện trên bộ xiệt điện bắt cá do Nguyễn Hải Đ sử dụng bằng phương pháp đo đồng hồ điện thì xác định nguồn điện sau khi được kẹp vào hai đầu bình ắc quy đã qua kích điện cho kết quả là 400V (bốn trăm vôn).

Kết luận giám định pháp y tử thi số 111/KLGĐTT-PC09 ngày 18/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Cần Thơ kết luận: Nạn nhân Trịnh Văn B tử vong do choáng sau điện giật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) thùng nhựa quẫy màu vàng, có 02 dây dùng để kéo, kích thước (33x16x37) cm; 01 (một) bình ắc quy hiệu Enimac 12V; 01 (một) cục xung điện màu đen, kích thước (16x6x9) cm; 01 cây chích được gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 2,1m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ; 01 (một) cây vợt điện gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 1,75m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ và gắn cây nhựa dài 0,2m được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai chờ xử lý theo quy định. Riêng đối với 01 đĩa DVD có chứa nội dung thực nghiệm điều tra ngày 28/10/2021 được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 20/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố Nguyễn Hải Đ về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa: Căn cứ vào các lời khai được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, tang vật thu giữ đã đủ cơ sở truy tố bị cáo Nguyễn Hải Đ về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Đ từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù giam.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự việc bị cáo bồi thường xong chi phí mai táng 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) cho gia đình bị hại. Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận tại phiên tòa của bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định của pháp luật đối với:

+ 01 (một) thùng nhựa màu vàng, có 02 dây dùng để đeo, kích thước (33x16x37) cm đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy hiệu Enimac 12V đã qua sử dụng; 01 (một) cục xung điện màu đen, kích thước (16x6x9) cm đã qua sử dụng; 01 cây chích được gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 2,1m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây vợt điện gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 1,75m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ và gắn cây nhựa dài 0,2m đã qua sử dụng là công cụ phương tiện bị cáo dùng để phạm tội và không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ 01 đĩa DVD có chứa nội dung thực nghiệm điều tra ngày 28/10/2021 nên đề nghị lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Ý kiến của ông Trịnh Văn L là người đại diện cho bị hại Trịnh Văn B: Bị cáo đã bồi thường xong chi phí mai táng bị hại 21.000.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tung: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các tình tiết như bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của người đại diện bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Hải Đ tuy biết trước hành vi dùng điện xiệt cá có thể dẫn đến hậu quả chết người nhưng lại chủ quan (tự tin) cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Bị cáo Nguyễn Hải Đ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, động cơ của bị cáo không phát sinh từ mâu thuẫn từ trước với bị hại, hành vi của bị cáo là nguyên nhân trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác mặc dù bị cáo không mong muốn, nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo phải chịu chế tài hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự.

Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố Nguyễn Hải Đ về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự là phù hợp với hành vi bị cáo thực hiện.

Khi lượng hình đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức độ phạm tội của bị cáo nhằm đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hải Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường xong chi phí mai táng 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) cho gia đình bị hại; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế; tại phiên tòa bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Vì thế Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân và mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, thể hiện bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ được phân tích như trên, xét thấy không cần phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo Nguyễn Hải Đ, cho bị cáo Đ hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách cũng đủ răng đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự, trị an tại địa phương.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo bồi thường xong chi phí mai táng 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện thỏa thuận với gia đình bị hại bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đây là sự tự thỏa thuận, định đoạt của các bên, không trái với quy định pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

01 (một) thùng nhựa màu vàng, có 02 dây dùng để đeo, kích thước (33x16x37) cm đã qua sử dụng; 01 (một) bình ắc quy hiệu Enimac 12V đã qua sử dụng; 01 (một) cục xung điện màu đen, kích thước (16x6x9) cm đã qua sử dụng; 01 cây chích được gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 2,1m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây vợt điện gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 1,75m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ và gắn cây nhựa dài 0,2m đã qua sử dụng là công cụ phương tiện bị cáo dùng để phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 đĩa DVD có chứa nội dung thực nghiệm điều tra ngày 28/10/2021 nên cần lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích, nhận định trên cho thấy việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại, ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa sẽ được Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc để lượng hình đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Hải Đ phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải Đ 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án (ngày 11/01/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Hải Đ cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Bị cáo Nguyễn Hải Đ phải bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trịnh Văn L.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng nhựa quẫy màu vàng, có 02 dây dùng để kéo, kích thước (33x16x37) cm; 01 bình ắc quy hiệu Enimac 12V; 01 (một) cục xung điện màu đen, kích thước (16x6x9) cm; 01 cây chích được gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 2,1m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ; 01 (một) cây vợt điện gắn vào đầu đoạn thanh trúc dài 1,75m, trên thanh trúc quấn dây điện màu đỏ và gắn cây nhựa dài 0,2m.

Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa nội dung thực nghiệm điều tra ngày 28/10/2021.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hải Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ Luật Dân sự 2015.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ