- Tranh chấp gì? án hình sự — "1/ Phạm Út D ( tên gọi khác không), sinh năm 1986; NKTT: Ấp Thống Nhất, xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu - phạm tội cướp giật tài…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Út D phạm tội “Cướp giật tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HSST Ngày: 10/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Tài Em
2/ Ông Võ Tấn Phước
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Tô Minh Phú- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2021/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
1/ Phạm Út D ( tên gọi khác không), sinh năm 1986; NKTT: Ấp Thống Nhất, xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: như trên; nghề nghiệp: làm vuông; trình độ văn hóa (học vấn) 7/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Phạm Văn Qúy (đã chết) và bà Huỳnh Thị Kiếm (sinh năm: 1952); có vợ Tăng Thị Bé Thảo, sinh năm: 1997 và 01 con; tiền án: 01 lần (ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 249 BLHS, chấp hành xong hình phạt ngày 21/11/2019;
* Bị hại: Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 17, xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 28/3/2021, Phạm Út D điều khiển xe Exciter biển số 47M1-315.84 (mượn của La Tuấn Anh) đi từ nhà thuộc ấp Thống Nhất, xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, đến nhà người quen, mục đích để mượn tiền. Trên đường đi, khi đến khu vực thuộc ấp Cá Rô, xã Minh Diệu, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, D nhìn thấy Nguyễn Thị N đang điều khiển xe Attila, biển số 59P1-34014 phía trước, có đeo 01 sợi dây chuyền vàng trên cổ, nên D điều khiển xe áp sát, rồi dùng tay giật lấy sợi dây chuyền. N truy hô, được người dân gọi điện trình báo cho Công an xã Minh Diệu kết hợp với Công an huyện Hòa Bình tiến hành chốt chặn tại cầu Hàng Bần thuộc ấp Thị Trấn B, thị trấn Hòa Bình, kiểm tra Phạm Út D thu giữ: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, tình trạng đã bị đứt, 01 xe gắn máy nhãn hiệu Exciter biển số 47M1-315.84. Phạm Út D tự nguyện giao nộp: 01 áo thun màu đen, chiều dài 65cm, chiều rộng 45cm; 01 áo sơ mi dài tay màu xám, chiều dài 70cm, chiều rộng 50cm và 01 cái quần Jean ống dài, màu xám trắng, chiều dài 100cm, chiều rộng 40cm.
Kết luận định giá số 24, ngày 07 tháng 4 năm 2021, của Hội đồng định giá huyện Hòa Bình kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ trị giá 7.684.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Phạm Út D thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện.
Đối với vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả cho bị hại Nguyễn Thị N 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, trọng lượng 02 chỉ; Trả cho La Tuấn Anh 01 xe gắn máy nhãn hiệu Exciter biển số 47M1-315.84. Ra quyết định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Bình quản lý gồm: 01 áo thun màu đen, chiều dài 65cm, chiều rộng 45cm; 01 áo sơ mi dài tay màu xám, chiều dài 70cm, chiều rộng 50cm; 01 cái quần Jean ống dài, màu xám trắng, chiều dài 100 cm, chiều rộng 40cm.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 50/QĐ-KSĐT ngày 13/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình đã truy tố bị cáo Phạm Út D về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều Điều 171 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, và các tài liệu chứng cứ khác.
Quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Phạm Út D về tội “ Cướp giật tài sản” và đề nghị:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 ; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Phạm Út D từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) cái áo thu ngắn tay, màu đen, phía trước có họa tiết hình tròn, tình trạng đã qua sử dụng
- 01 (một) cái áo sơmi dài tay, màu xám. Tình trạng đã qua sử dụng.
- 01 (một) cái quần jeen ống dài, màu xám trắng, trên ống quần có nhiều vết rách. Tình trạng đã qua sử dụng.
Tại Tòa bị cáo Phạm Út D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Bị cáo Phạm Út D nói lời sau cùng với Hội đồng xét xử là xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. D đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của các bị cáo Phạm Út D trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy, chỉ vì động cơ vụ lợi nên bị cáo Phạm Út D đã có hành vi táo bạo liều lĩnh ngang nhiên điều khiển xe gắn máy có phân khối lớn, là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội áp sát rồi công khai giật lấy 01 sợi dây chuyền kim loại vàng 18k trọng lượng 02 chỉ trị giá 7.684.000 đồng của chị Nguyễn Thị N và nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây thiệt hại tài sản, tính mạng, sức khỏe của người bị hại mà còn có thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính, mạng của những người khác cùng lưu thông trên đường tại thời điểm xảy ra tội phạm, điều đó buộc bị cáo phải nhận thức rất rõ, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Mặt khác bị cáo Phạm Út D đã bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xét xử ngày 27/11/2018 về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án 01 năm 06 tháng tù nhưng bị cáo vẫn không ăn năn hối cải mà lại tiếp tục phạm tội (tái phạm) nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Việc truy tố xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Đây là trường hợp phạm tội nghiêm trọng. D vậy, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại D đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra có thu giữ của bị cáo D 01 (một) cái áo thu ngắn tay, màu đen, phía trước có họa tiết hình tròn, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo sơmi dài tay, màu xám. Tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) cái quần jeen ống dài, màu xám trắng, trên ống quần có nhiều vết rách. Tình trạng đã qua sử dụng. Các tài sản này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với xe gắn máy nhãn hiệu Exciter biển số 47M1-315.84 là phương tiện bị cáo D điều khiển để thực hiện hành vi phạm tội, xé gắn máy này bị cáo D mượn của anh La Tuấn Anh. Việc bị cáo D mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội anh La Tuấn Anh không biết, mặt khác xe gắn máy nêu trên đã được cơ quan điều tra trả cho anh La Tuấn Anh vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình về hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy đã phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Phạm Út D phạm tội “Cướp giật tài sản”
2/ Áp dụng điểm điểm d khoản 2 Điều 171 ; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015
- Xử phạt bị cáo Phạm Út D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 28/03/2021.
3/ Xứ lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy
- 01 (một) cái áo thu ngắn tay, màu đen, phía trước có họa tiết hình tròn, tình trạng đã qua sử dụng
- 01 (một) cái áo sơmi dài tay, màu xám. Tình trạng đã qua sử dụng.
- 01 (một) cái quần jeen ống dài, màu xám trắng, trên ống quần có nhiều vết rách. Tình trạng đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện D Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/11/2021)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I danh mục án phíNghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Út D phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nộp tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hoà Bình; - THADS huyện Hoà Bình; - Công an huyện Hòa Bình - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa LÊ THỊ NAM |