- Tranh chấp gì? án hình sự — "Liềng Chắn D phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Liềng Chắng D (D1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HSST Ngày: 12/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Đức Dũng
2/ Bà Lữ Kim Hằng
-Thư ký phiên tòa: ÔngNguyễn Công Nam- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2021/TLST - HS ngày 29/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2021/QĐXXST - HS ngày 28/12/2021 đối với bị cáo:
Liềng Chắng D (tên gọi khác: D1), sinh năm 1990, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 7, xã X T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa: 2/12; con ông: Liềng Cẩu C, sinh năm: 1967 và bà Lường Cỏn M (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: 01 tiền án. Năm 2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 18/7/2021. Hiện chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2010 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng. Chấp hành xong ngày 25/9/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/9/2021 và tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+ Chị Trần Thị Thanh T1, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã XT, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
+ Chị Phan Mỹ T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã XT, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- 1 -
- Người làm chứng: anh Đinh Kim N, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 1, xã XT, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Liềng Chắng D có 01 (một) tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/7/2021. Sau khi trở về địa phương, do không có tiền tiêu xài, D đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 03 giờ ngày 28/8/2021, bị cáo đi bộ một mình đến khu chòi bạt của công nhân xây dựng tại ấp 7, xã XT, huyện C, tỉnh Đồng Nai để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đến nơi, bị cáo đi vào chỗ chòi bạt sát bờ rào dâm bụt quan sát thấy bên trong chòi có hai người đang ngủ, phía cuối giường có một cái điện thoại di động nên nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo đi đến chỗ nấu ăn của chòi lấy 01 (một) con dao loại dao Thái lan cán nhựa màu vàng rồi vòng ra phía ngoài chòi dùng dao rạch đứt bạt 01 (một) đường dài khoảng 1,5 mét và chui vào trong tiếp tục dùng dao rạch trên màn 01 (một) đoạn dài khoảng 20cm rồi thò tay vào trong màn lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A02S, màu trắng của chị Trần Thị Thanh T1 bỏ vào túi quần. Sau đó, bị cáo tiếp tục lấy số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) của chị T1 để trong hộp giấy gần chiếc quạt bỏ vào túi quần rồi vứt bỏ con dao phía bên ngoài chòi và đem điện thoại về nhà cất giấu. Riêng số tiền 250.000 đồng lấy trộm được bị cáo đã tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 22 giờ ngày 06/9/2021, bị cáo tiếp tục đến khu vực trên, sau đó đi vào chòi bạt sát với đường đá rồi dùng tay mở bạt lên quan sát thì thấy hai người đang ngủ và 01 (một) chiếc điện thoại đang pin ở phía trong màn. Bị cáo dùng tay xé rách màn rồi thò tay vào trong màn lấy trộm 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A30, màu xanh của chị Phan Mỹ T2 bỏ vào túi quần và đem về nhà cất giấu.
Đến khoảng 15 giờ ngày 12/9/2021, bị cáo đem 02 chiếc điện thoại di động nói trên đến tiệm điện thoại của anh Đinh Kim N thuộc ấp 1, xã X T, huyện C, tỉnh Đồng Nai để bẻ khoá mật khẩu thì bị phát hiện, bắt giữ và điều tra xử lý.
Tại kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG ngày 15/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ kết luận:
- 2 -
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30, màu xanh, Imei 30000, bị vỡ nứt màn hình trước, bị mất ngày 06/9/2021 có giá trị là 2.079.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02S, màu trắng, Imei 33195, bị mất ngày 28/8/2021 có giá trị là 3.231.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 5.310.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Phan Mỹ T2;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02S đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thanh T1;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S7, màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy A11, màu đen, thu giữ trong quá trình bắt giữ Dưỡng, Dưỡng khai đây là điện thoại của cá nhân. Do không có cơ sở để xác định 02 (hai) điện thoại trên do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Phan Mỹ T2 đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu gì thêm.
- Chị Trần Thị Thanh T1 đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại, riêng số tiền 250.000 đồng bị mất trộm chị không yêu cầu Dưỡng phải trả lại. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSCM ngày 26/11/2021, Viện Kiểm sát nhân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố bị cáo Liềng Chắng D (D1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Liềng Chắng D mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- 3 -
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Liềng Chắng D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 28/8/2021 và ngày 06/9/2021, tại khu chòi bạt của công nhân xây dựng thuộc ấp 7, xã XT, huyện C, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Liềng Chắng D đã thực 02 vụ trộm cắp tài sản cụ thể: vào khoảng 03 giờ ngày 28/8/2021 bị cáo lấy trộm của chị Trần Thị Thanh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02S có giá trị là 3.231.000 đồng và 250.000 đồng. Đồng thời ngày 06/9/2021 bị cáo lấy trộm của chị Phan Mỹ T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30 có giá trị là 2.079.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.560.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành, bị cáo đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lo tu chí, rèn luyện bản thân, mà bị cáo đã chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản có giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Mặt khác, năm 2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 18/7/2021 nhưng đến ngày 28/8/2021 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận xét và đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: chị Trần Thị Thanh T1 và chị Phan Mỹ T2 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[5] Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A30, 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S7, màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy A11, màu đen Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
- 4 -
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Liềng Chắng D (D1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Liềng Chắng D (D1) 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ và tạm giam 12/9/2021.
2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Cẩm Mỹ; - VKSND huyện Cẩm Mỹ; - THADS huyện C M; - Hồ sơ thi hành án; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, án văn. - 5 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Trung |