- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá Th phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá Th phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HSST Ngày: 10- 01- 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thu và bà Vũ Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2021/TLST- HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2021/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Lê Bá Th, sinh năm 1987. Nơi sinh: Thanh Hóa. Nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn YC, huyện NX, tỉnh TH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Bá Th10 (đã chết) và bà Lê Thị Th10; Vợ: Lương Thị M10, có 01 con sinh năm 2014; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt).
* Bị hại:
+ Chị Phạm Thị T, sinh năm 1972.
+ Anh Ninh Văn H, sinh năm 1972.
Đều có địa chỉ: Thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Ninh Văn H: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn TK, xã TT, huyện CG, tỉnh Hải Dương.
(có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Chị Vũ Thị S, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn LC, huyện CG, tỉnh Hải Dương. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Vũ Tuấn H, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Thôn LX, xã LĐ, huyện CG, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Thôn MN, xã NL, huyện CG, tỉnh Hải Dương
(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Chị Trịnh Thị D (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 29/9/2021và ngày 03/10/2021, Lê Bá Th đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể:
Vụ thứ nhất: Sáng ngày 29/9/2021, Lê Bá Th đi bộ quanh khu vực chợ Ghẽ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 08 giờ sáng cùng ngày, tại khu vực cổng phụ của chợ Ghẽ Th phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319 của chị Phạm Thị T dựng ở rìa cổng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, xung quanh không có ngườ i trông giữ, Th ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe đi đến thôn LX, xã LĐ, huyện CG, tỉnh Hải Dương bán cho anh Vũ Tuấn H vớ i số tiền 700.000đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 03/10/2021 ta ̣i khu vực cuối chợ Ghe, Th̃ phát hiện mô ̣t chiếc xe mô tô nhãn hiệu LISHOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666 của chị Vũ Thị S dựng ở lán xe phía cuối chợ, không có người trông giữ, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, Thảo ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe đến thôn MN, xã NL, huyện CG, tỉnh Hải Dương bán cho anh Nguyễn Văn T1 với số tiền 700.000đồng. Số tiền có được từ viê ̣c trô ̣m cắp tài sản, Th đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 29/9/2021 và 03/10/2021, chị Phạm Thị T, chị Vũ Thị S có đơn trình báo, vụ án được điều tra làm rõ.
Ngày 04/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng quản lý xe môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319 do anh Vũ Tuấn H giao nộp; quản lý xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666 do anh Nguyễn Văn T1 giao nộp.
Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG-TTHS ngày 06/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Cẩm Giàng kết luận: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319 đã qua sử dụng có giá trị 1.100.000đồng; 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666 đã qua sử dụng có giá trị 1.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.100.000đồng.
Ngày 20/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã trả cho chị Phạm Thị T (anh Ninh Văn H đã làm thủ tục ủy quyền cho chị Toản) chiếc xe môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319; trả cho chị Vũ Thị S chiếc xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666 là chủ xe hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại về các Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản và xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng.
Quan điểm của bị hại chị Phạm Thị T, chị Vũ Thị S (thông qua đơn xét xử vắng mặt): Đã nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Tuấn H, anh Nguyễn Văn T1 (thông qua đơn xin xét xử vắng mặt): Anh Hưng tự nguyện cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 700.000đồng đã mua xe môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319. Anh Thuân tự nguyện cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 700.000đồng đã mua xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 20/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Lê Bá Th về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương hành quyền công tố, trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Bá Th phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá Th từ 06 tháng đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/10/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buô ̣c bi ̣ cáo Lê Bá Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vụ việc, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên trong các ngày 29/9/2021 và ngày 03/10/2021 tại khu vực chợ Ghẽ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Lê Bá Th đã lợi dụng không có người trông giữ tài sản, chìa khóa vẫn để trên ổ khóa điện, trộm cắp chiếc môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319 trị giá 1.100.000đồng của chị Phạm Thị T. Trộm cắp chiếc xe môtô nhãn hiệu LISHOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666, trị giá 1.000.000 đồng của chị Vũ Thị S. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.100.000đồng.
Bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng sự sơ hở quản lý tài sản của người khác để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền tiêu xài, muốn biến tài sản của người khác thành tài sản của mình mà không phải bỏ công sức lao động nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét về hành vi, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không những vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản trong nhân dân.Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội này.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện tạm giam, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Phạm Thị T, chị Vũ Thị S đã nhận lại tài sản mà bị cáo chiếm đoạt và tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Tuấn H, anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện cho bị cáo số tiền 700.000đồng đã mua xe môtô nhãn hiệu SYM Angel màu nâu, biển kiểm soát 34F7-2319 và số tiền 700.000đồng đã mua xe môtô nhãn hiệu LISOHAKA màu xanh, biển kiểm soát 34K7-2666, không yêu cầu bị cáo hoàn trả. Xét việc anh Hưng, anh Thuân cho bị cáo là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về các vấn đề khác: Đối với anh Hưng, anh Thuân là người mua xe môtô của bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có và không biết bị cáo trộm cắp tài sản sẽ mang bán cho mình nên không đồng phạm về tội "Trộm cắp tài sản". Quá trình mua bán có viết giấy mua bán xe môt nên không có căn cứ xử lý anh Hưng, anh Thuân về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
. Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá Th phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá Th 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/10/2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Bá Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, chỉ được kháng cáo bản án phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNV liên quan; - VKSND huyện Cẩm Giàng; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Cẩm Giàng; - Cơ quan THAHS - Công an huyện Cẩm Giàng; - Chi cục THSDS huyện Cẩm Giàng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Vân Hà |