- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phước H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày: 04 - 01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
Các H i thẩm nh n d n: Ông Hồ Tùng Mận và bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 364/2021/TLST - HS, ngày 15 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 371/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Phước H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 5 năm 1995, tại tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 6, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Không xác định;
Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm: 1962; Họ và tên mẹ: Đinh Thị Thùy D, sinh năm: 1971; Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột từ ngày 21 tháng 9 năm 2021 cho đến nay. Có mặt
Người bị hại:
1.Chị Nguyễn Thị Mai L, sinh năm: 1997; địa chỉ: 03 đường N, phường T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk. ( Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Thọ A, sinh năm: 2001; Địa chỉ: 126 liên gia 5, tổ dân phố 7, phường K, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Quang B, sinh năm: 1987; Địa chỉ: 94 đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)
2. Anh Châu Thanh T, sinh năm: 1999; Địa chỉ: 186 đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 15 tháng 9 năm 2021, Nguyễn Phước H đến nhà bà Vũ Thị Ng để lấy thuốc cho bạn là anh Đào Xuân Q (con trai bà Ng). Sau khi lấy thuốc cho anh Q, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 47D1-402.35 của chị Nguyễn Thị Mai L (bạn gái anh Q) mang đi bán lấy tiền tiêu xài nên H gợi ý với bà Ng mượn chiếc xe trên của chị L đang để tại Nhà thi đấu tỉnh Đắk Lắk và để H lấy xe của L về cho bà Ng sử dụng. Bà Ng nghĩ H nói thật nên đã đồng ý nhờ H gặp chị L lấy xe. Tối cùng ngày, trong lúc H ăn cơm cùng anh Q tại xã Hòa Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, anh Q gọi điện thoại cho chị L (bật loa ngoài) nên H liền trao đổi với chị L về việc sáng hôm sau sẽ đến lấy xe đưa về cho bà Ng sử dụng, thì chị L đồng ý. Trong khi ở nhà anh Q, H biết được giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 47D1-402.35 của chị L đang được anh Q cất trong ví để ở thùng đồ cuối giường ngủ, nên vào khoảng hơn 06 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2021, H thức dậy lấy giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35, rồi gọi điện thoại nhờ bạn là anh Nguyễn Thọ A chở đến Nhà thi đấu tỉnh Đắk Lắk, đến nơi, H gọi điện thoại cho chị L ra ngoài, chị L nghĩ rằng H sẽ mang xe về cho bà Ng nên tự nguyện giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 47D1-402.35 cho H. Vì H không có Chứng minh nhân dân nên đã điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47D1-402.35 đến nhà bạn là Châu Thanh T rồi nhờ anh T đứng ra cầm cố giúp H chiếc xe trên thì anh T đồng ý. Sau đó, H chở anh T đến tiệm cầm đồ địa chỉ 94 Lê Duẩn, phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk do anh Trần Quang B làm chủ. Tại đây, H nói dối anh B chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35 là của H, vì không có chứng minh nhân dân nên nhờ anh T đứng ra cầm cố giúp. Anh B đồng ý và nhận cầm cố chiếc xe trên với giá 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Sau khi nhận tiền, H đã nạp số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng) vào tài khoản trò chơi trên điện thoại và chơi thua hết. Lúc này, vì muốn có tiền chơi tiếp, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, biển kiểm soát 47N9-5731 của anh Nguyễn Thọ A nên đã đón taxi đến nhà anh A ở tổ dân phố 7, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, H nói dối anh A mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47N9-5731 để đi làm thì anh A đồng ý cho mượn và đưa luôn giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho H. Ngay sau đó, H mang chiếc xe đến tiệm cầm đồ 94 đường L, phường T, thành phố B tiếp tục cầm cố chiếc xe cho anh B với số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Sau đó, H tiếp tục nạp tiền vào trò chơi trên điện thoại và chơi thua hết số tiền này. Ngày 17 tháng 9 năm 2021, vì không còn tiền tiêu xài nên H đã bán chiếc điện thoại Xiaomi Redmi của H cho một người đi đường (chưa xác định được lai lịch). Do không còn khả năng khắc phục trả lại các tài sản đã chiếm đoạt nên ngày 21 tháng 9 năm 2021, Nguyễn Phước H đã đến Công an thành phố Buôn Ma Thuột để đầu thú.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 185/KL-HĐĐGTS ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn: Đỏ - đen, số máy JF66E0875709, số khung 5813GY906569, dung tích 108cm3, xe đăng ký lần đầu ngày 01 tháng 8 năm 2018, đã qua sử dụng (tài sản thu hồi được), trị giá: 26.100.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng);
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 193/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 10 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 47N9-5731, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn: Bạc - đen, dung tích 110cm3, xe đăng ký lần đầu ngày 30 tháng 7 năm 2008, đã qua sử dụng, trị giá: 8.300.000 đồng (Tám triệu ba trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 14/12/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước H phạm tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước H: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn: đỏ, số máy JF66E0875709, số khung 5813GY906569, dung tích 108cm3, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023214. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trên là tài sản sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Mai L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ trên cho chị L là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47N9-5731, nhãn hiệu Yamaha, số loạiSirius, màu sơn: Bạc đen, dung tích 110cm3, số máy RLCS5C6308Y111947, số khung 5C6311947, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 111678. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trên là tài sản sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Thọ A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ trên cho anh A là phù hợp.
Đối với chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của anh Châu Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với Biên nhận cầm đồ ngày 16 tháng 9 năm 2021, tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án để đảm bảo cho công tác xét xử.
Phần dân sự: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Nguyễn Thọ A sau khi được Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại xe mô tô bị H chiếm đoạt thì cả hai đều không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm.
Chấp nhận việc gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Quang B số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng như nội dung trên, và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Phước H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở xác định:
Do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên vào ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, Nguyễn Phước H đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu sơn: Đỏ - đen, biển kiểm soát: 47D1-402.35, trị giá: 26.100.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm ngàn đồng) của chị Nguyễn Thị Mai L và chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu bạc đen, biển kiểm soát 47N9-5731 trị giá 8.300.000 đồng (Tám triệu ba trăm ngàn đồng) của anh Nguyễn Thọ A.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Phước H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thu c m t trong các trường hợp sau đ y, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét thấy, bị cáo là công dân có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo biết rằng tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đều sẽ bị pháp luật trừng trị. Song do tham lam tư lợi nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho anh Trần Quang B và bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện được chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn: đỏ, số máy JF66E0875709, số khung 5813GY906569, dung tích 108cm3, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023214. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trên là tài sản sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Mai L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ trên cho chị L là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47N9-5731, nhãn hiệu Yamaha, số loạiSirius, màu sơn: Bạc đen, dung tích 110cm3, số máy RLCS5C6308Y111947, số khung 5C6311947, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 111678. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe trên là tài sản sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Thọ A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô cùng giấy tờ trên cho anh A là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx của anh Châu Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T quản lý, sử dụng là phù hợp cần chấp nhận.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị Mai L và anh Nguyễn Thọ A sau khi được Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại xe mô tô bị H chiếm đoạt thì cả hai đều không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra anh Trần Quang B yêu cầu bị cáo Nguyễn Phước H bồi thường cho anh B số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng), tuy nhiên trước phiên Tòa bị cáo đã tác động gia đình đã bồi thường cho anh B số tiền trên và được anh B tự nguyện làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước H: 01 (một) năm 09 (chín ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 21/9/2021.
[2] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Nguyễn Thị Mai L chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47D1-402.35, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn: đỏ, số máy JF66E0875709, số khung 5813GY906569, dung tích 108cm3, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 023214. Trả cho anh Nguyễn Thọ A chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47N9-5731, nhãn hiệu Yamaha, số loạiSirius, màu sơn: Bạc đen, dung tích 110cm3, số máy RLCS5C6308Y111947, số khung 5C6311947, đã qua sử dụng cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 111678 và trả chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx cho anh Châu Thanh T.
Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Phước H đã bồi thường cho anh Trần Quang B số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội.
Bị cáo Nguyễn Phước H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKS TP. BMT; - Chi cục THA TP. B; - Công an TP. BMT; - VKS tỉnh Đắk Lắk; - TA tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnhNinh Thuận; - Bị cáo, đương sự; - Lưu HS vụ án, VPCQ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Nguyệt |