- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 07 – 01 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Liên.
Ông Bùi Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhạn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/3/1982 tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Tổ 8, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 1/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: + Bản án hình sự sơ thẩm số 58/HSST ngày 29/7/2003 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2007/HSST ngày 09/02/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bản án hình sự phúc thẩm số 16/2007/HS-PT ngày 12/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ nguyên hình phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2008/HS-ST ngày 23/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội trốn khỏi nơi giam.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2015/HSST ngày 16/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bản án hình sự phúc thẩm số 12/2015/HS-PT ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ nguyên hình phạt hình phạt 24 tháng tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2015/HS-ST ngày 10/02/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: + Bản án hình sự sơ thẩm số 43/HSST ngày 02/4/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản công dân và 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa.
+ Quyết định số 675/QĐ-UBND ngày 30/5/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng về hành vi cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2021 đến ngày 16/7/2021 được chuyển tạm giam đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình; có đơn xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Ngô Xuân Th, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ 16, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Có đơn xét xử vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
+ Ông Đỗ Hữu Á, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình; có đơn xét xử vắng mặt.
+ Anh Bùi Mạnh H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình; vắng mặt không có lý do.
+ Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình; vắng mặt không có lý do.
+ Anh Đỗ Quốc H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Khu T, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/7/2021, Nguyễn Thế T xuống xe buýt tại khu vực ngã ba thị trấn Mãn Đức thuộc khu Tâm Đức, thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình rồi vào quán cơm Ánh Tuyến để ăn tối. Khi vào quán, T bảo ông Đỗ Hữu Á chủ quán làm cho một bát mỳ tôm thịt bò và hỏi ông Á chỉ chỗ để đi vệ sinh. Khi Tùng đi vào đi vệ sinh thì thấy bà Ngô Thị T là vợ ông Á đang ngồi rửa bát ở gian bếp khuất sau gian bán hàng. Đi vệ sinh xong, T đi ra khu vực quầy để thức ăn tại gian bán hàng, thấy một tủ kính cửa mở, bên trong có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màu đen của bà T nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau khi quan sát thấy ông Á đã vào gian bếp nấu mỳ, bà T vẫn ngồi rửa bát nên T đã nhanh chóng trộm cắp chiếc điện thoại để ở trong tủ kính rồi đút vào túi quần sau và đi ra khỏi quán. T đi sang bên kia đường, bắt xe ô tô taxi biển kiểm soát 28A – 084.61 của anh Bùi Mạnh Hùng chở ra thành phố Hòa Bình. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, T đi cùng xe taxi đến cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại Xuân Thủy Mobile thuộc phường Hữu Nghị, thành phố Hòa Bình. T bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được cho chủ cửa hàng là anh Ngô Xuân Th với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục lên xe taxi và bảo anh H chở đến khu vực gần đầu cầu 3 thuộc phường Thịnh Lang để ăn tối. Lúc này, ông Ánh và anh Nguyễn Văn A đi xe ô tô do anh Đỗ Quốc H điều khiển từ thị trấn Mãn Đức ra thành phố Hòa Bình đến vị trí xe anh H (do trước đó có sự liên lạc với anh Hùng nên biết vị trí xe). Khi ông Á xuống xe gặp T hỏi có lấy chiếc điện thoại Samsung Galaxy S10+, màu đen tại quán không thì H khai nhận hành vi phạm tội của mình và cùng mọi người quay lại cửa hàng điện thoại Xuân Thủy Mobile để chuộc lại điện thoại trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL – HĐĐG ngày 09/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Lạc kết luận: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen đã qua sử dụng có giá 5.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 11/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thế T về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận tội và không kêu oan.
Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập:
Bị hại (Lời khai tại giai đoạn điều tra): Ngày 07/7/2021, bà có để chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen của bà trong tủ kính tại quầy bán hàng ăn và đi rửa bát ở gian bếp thì có Nguyễn Thế T vào quán sau đó đã lấy trộm chiếc điện thoại trên. Hiện nay, bà đã được nhận lại chiếc điện thoại và không bị hỏng gì nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (lời khai tại giai đoạn điều tra): Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07/7/2021, anh có mua 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen của Nguyễn Thế T với giá 2.000.000 đồng. Khi mua, anh không biết là tài sản do T trộm cắp mà có. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, T đi cùng một số người quay lại cửa hàng và chuộc lại điện thoại. Anh đã nhận lại số tiền 2.000.000 đồng.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Không.
Về án phí: Đề nghị áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các ý kiến tranh luận: Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, là sai. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo không còn người thân, giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về gia đình hương khói cho bố mẹ và anh trai. Bị cáo sẽ không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 07/7/2021, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Thế T đã có hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng của bà Ngô Thị T. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Đây là tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo nhiều lần bị kết án về nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu. Ngày 26/8/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương nhưng không lấy đó làm bài học để làm ăn lương thiện mà lại thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là có căn cứ.
Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen. Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Lạc đã trả lại cho bị hại Ngô Thị T nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Thị Tn đã được nhận lại tài sản và không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì nên không đề cập giải quyết.
Anh Ngô Xuân Th có mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen của Nguyễn Thế Tùng với giá 2.000.000 đồng. Anh đã được nhận lại số tiền này nên không đề cập giải quyết.
Về vấn đề khác: Anh Ngô Xuân Th có hành vi mua 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+, màn hình cảm ứng, màu đen của Nguyễn Thế T với giá 2.000.000 đồng. Khi mua, anh không biết là tài sản do Tùng phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (Ngày 08/7/2021).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Tân Lạc; - Chi cục THADS huyện Tân Lạc; - CQCSĐT Công an huyện Tân Lạc; - CQ THAHS Công an huyện Tân Lạc; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hữu Doanh |