vanban.org

Bản án 01/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 07/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội: “Lưu hành tiền giả”

Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND xã Minh Đức, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị H " Lưu Hành tiền giả" - phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (điều 207 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội: “Lưu hành tiền giả”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HS - ST
Ngày 07 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đoan và ông Trần Văn Trịnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 73/2021/TLST - HS ngày 29/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2021/QĐXXST - HS ngày 09/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2021/HSST – QĐ ngày 23/12/2021 đối với bị cáo: Lê Thị H, sinh năm 1975, tại Hà Nội; HKTT và trú tại: Thôn Thần, xã Minh Đức, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M; có chồng Hoàng Văn Ng và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2021 đến ngày 21/5/2021 được hủy bỏ quyết định tạm giữ. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mai Thị , sinh năm 1976

Trú tại: Thôn Giẽ Thượng , xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 12/5/2021 Lê Thị H đang bán hàng hoa quả tại thôn Thần, xã Minh Đức, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội thì có một người nam giới lạ mặt ( Hướng không biết tên, tuổi, địa chỉ ) đến mua hàng hết số tiền 50.000 đồng, người nam giới này đã trả tiền bằng 10 tờ mới mệnh giá 5.000 đồng và đề nghị Hướng đổi 40 tờ tiền mới mệnh giá 5.000 đồng lấy một tờ mệnh giá 200.000 đồng. Hướng đồng ý đổi tiền cho người nam giới. Tổng số tiền mà người nam giới đã mua hàng và đổi tiền là 50 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Sau khi mang 50 tờ tiền trên về nhà, Hướng không kiểm tra tiền thật hay tiền giả, mà sử dụng một phần số tiền này để tiêu thụ khi đi bán hàng để trả lại tiền cho khách, còn lại 20 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng Hướng cất tại nhà mục đích để đi lễ. Trong quá trình bán hàng Hướng có lấy tiền 5.000 đồng để trả tiền thừa cho khách đã mua hàng của Hướng thì có khách hàng phản ánh 01 tờ tiền 5.000 đồng mà Hướng đã trả lại cho khách là tiền giả, nên Hướng đã đổi lại cho khách và lấy lại tờ tiền 5.000 đồng nghi tiền giả. Đến tối ngày 15/5/2021 Hướng lấy số tiền đã đổi của người nam giới ra kiểm tra, so sánh thì nhận thấy màu sắc của những tờ tiền này nhạt màu, khác so với tiền thật nên Hướng biết đó là tiền giả. Hướng đã đem 20 tờ tiền loại 5.000 đồng cất tại nhà và tờ tiền 5.000 đồng mà người khách mua hàng đã trả lại đem đi tiêu hủy đốt hết. Còn lại một số tờ tiền Hướng biết là tiền giả nhưng do tiếc nên vẫn giữ lại trong ví. Đến 08 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, chị Mai Thị Sáu là thành viên Ban quản lý chợ Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội đến quầy bán hoa quả của Hướng tại chợ Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội để thu vé chợ và đề nghị Hướng đổi cho một ít tiền lẻ để đi lễ thì Hướng đồng ý. Chị Sáu đưa cho Hướng 01 tờ tiền loại mệnh giá 50.000 đồng, Hướng đưa lại cho chị Sáu 10 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Sau khi đổi được tiền, chị Sáu cầm tiền để riêng tiền vừa đổi của Hướng cất vào túi áo chống nắng bên phải đang mặc. Khi quay về quầy bán nước, chị Sáu kiểm tra lại tiền vừa đổi của Hướng thì phát hiện trong 10 tờ tiền mệnh giá loại 5.000 đồng nghi là tiền giả và giao nộp cho cơ quan điều tra toàn bộ số tiền của Hướng.

Tại kết luận giám số 4029/KLGĐ - PC09 – Đ3 ngày 24/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: 06 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng mệnh giá 5.000 đồng có số seri là: VK 9658862; VK 9658866; VK 9658867; VK 2268982; VK 2268983; VK 1656518 là tiền giả.

Tại bản cáo trạng số 71/CT - VKS ngày 29/11/2021 của VKSND huyện Phú Xuyên đã truy tố Lê Thị Hướng về tội “Lưu hành tiền giả” theo khoản 1 Điều 207 của BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Lê Thị Hướng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 207; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Lê Thị H 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị tịch thu tiêu hủy 06 tờ tiền giả mệnh giá 5.000 đồng, tịch thu sung quỹ Nhà nước 20.000 đồng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với diễn biến hành vi, biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX kết luận: Do bị cáo Lê Thị Hướng tiếc tiền đổi phải tiền giả, nên Hướng đã cất số tiền gồm 06 tờ mệnh giá 5.000 đồng tương đương với 30.000 đồng tiền thật vào ví, không nói cho ai biết với ý định đem đi tiêu thụ. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/5/2021, tại quán bán hoa quả của Hướng ở chợ Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên Thành phố Hà Nội, H đã đổi tiền cho chị Mai Thị Sáu 10 tờ tiền loại mệnh giá 5.000 đồng , trong đó có 06 tờ tiền cùng mệnh giá 5.000 đồng có số seri là: VK 9658862; VK 9658866; VK 9658867; VK 2268982; VK 2268983; VK 1656518 là tiền giả. Với hành vi nêu trên của Hướng đã đủ dấu hiệu cấu thành tội Lưu hành tiền giả. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã xâm phạm đến an ninh tiền tệ và chế độ quản lý tài chính của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân, làm mất trật tự trị an địa phương, khiến dư luận bất bình, nên án. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, đã xem xét đến: Do bị cáo tiếc tiền đổi phải tiền giả, không phải đi mua tiền giả về để đổi lại nhằm thu lợi bất chính; tính chất, mức độ nguy hiểm nhẹ hơn so với tính chất, mức độ đi mua tiền giả về để tiêu thụ; hơn nữa quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tồi lần đầu, thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; số tiền giả lưu hành ít 30.000 đồng; sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả và bồi thường cho chị Mai Thị Sáu số tiền mà bị cáo đã đổi cho chị Sáu; bố chồng là ông Hoàng Văn Cự được Hội đồng bộ trưởng Nước công hòa xã hội Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng cần có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, nhưng không cần cách ly bị cáo mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ trừng trị, giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bị cáo xuất thân từ nghề nông, thu nhập không ổn định, không có điều kiện để thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người nam giới đổi tiền giả cho bị cáo, bị cáo khai không biết, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng của vụ án: Gồm 10 tờ tiền loại mệnh giá 5.000 đồng; trong đó có 06 tờ tiền cùng mệnh giá 5.000 đồng có số seri là: VK 9658862; VK 9658866; VK 9658867; VK 2268982; VK 2268983; VK 1656518 (tiền giả) là vật cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy, 04 tờ tiền cùng mệnh giá 5.000 đồng có số seri là: QH 1323573; HF 5681589; HC 6940973; ZL 1558522 (tiền thật) tịch thu xung công quỹ Nhà nước.

Ngoài ra buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội: “Lưu hành tiền giả”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 207; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Hướng 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND xã Minh Đức, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 06 tờ tiền giả mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) gồm các tờ có số sêri in như sau: VK 9658862; VK 9658866; VK 9658867; VK 2268982; VK 2268983; VK 1656518.

- Tịch thu xung quỹ Nhà nước: 04 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam loại Polyme mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) có số seri là: QH 1323573; HF 5681589; HC 6940973; ZL 1558522. Tổng số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên ngày 29/11/2021 và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/11/2021).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Thị Hướng phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Nơi nhận;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND huyện Phú Xuyên;

- Công an huyện Phú Xuyên;

- Chi cục THADS huyện Phú Xuyên;

( đã ký)

- UBND xã Minh Đức;

- Bị cáo;

- Lưu HS, VT;

Lã Phi Hùng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ