- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh H có hành vi đốt cháy nhà ở thôn Đồng Vang, xã Thanh An, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, trị giá 30.873.000 đồng - phạm tội hủy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 20-01-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH LONG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Kim Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Bình và ông Đinh Văn Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Liên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Đinh Y Lía và ông Võ Thành Luân, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:
Phạm Thanh H (Tên gọi khác: Không).
Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1986 tại xã B , huyện Bi, tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã B, huyện Bi, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Thanh M và bà Nguyễn Thị C; vợ: Đinh Thị Tr (không có đăng ký kết hôn, sống chung như vợ chồng); Có 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05/11/2020, bị Uỷ ban nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản người khác” theo Quyết định số 354/QĐ-XPVPHC, đã chấp hành nộp phạt xong vào ngày 20/11/2020; đặc điểm nhân thân xấu. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/11/2021 (theo Lệnh bắt để tạm giam số 01/LBTG, ngày 01/11/2021 của Công an huyện Minh Long) đến nay. Có mặt.
* Bị hại:
1/ Chị Đinh Thị Tr; sinh năm 1992;
2/ Cháu Đinh Thị Gia H, sinh ngày 21/6/ 2014;
3/ Cháu Đinh Thị Thanh T, sinh ngày 02/01/ 2016;
Có cùng nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
* Chị Đinh Thị Tr là người đại diện theo pháp luật của các bị hại Đinh Thị Gia H và Đinh Thị Thanh T (mẹ đẻ hai cháu). Chị Tr có mặt
* Người làm chứng: Ông Đinh Văn Ô (sinh năm 1981); ông Đinh Văn S (sinh năm 1987); ông Đinh Văn Tr (sinh năm 1985); bà Đinh Thị T (sinh năm 1985). Cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã T huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. 04 người làm chứng cùng vắng mặt.
- Chị Phạm Thị H (sinh năm 1989). Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Trương Quang Tr, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
* Người phiên dịch: Bà Đinh Thị S (sinh năm 1985); công tác tại Hội Liên hiệp phụ nữ xã T, huyện M. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phạm Thanh H và chị Đinh Thị Tr sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2013 đến nay, không có đăng ký kết hôn, có hai người con chung, cùng sinh sống tại nhà ở của chị Tr ở thôn Đ, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Khoảng 12 giờ trưa ngày 26/9/2021, H và chị Tr phát sinh cải vả nhau. Khi chị Tr dẫn hai con nhỏ bỏ ra khỏi nhà, H tức giận và nảy ý định đốt vật dụng trong nhà. Bị cáo khai dùng xăng để đốt, bằng cách rút đầu ống nhựa bình xăng con của xe mô tô (biển kiểm soát 60T4-3220) dựng ở sân, cho xăng chảy vào ca nhựa, rồi vào phòng ngủ, đổ xăng lên chiếc chiếu nhựa, ném ca nhựa trong phòng ngủ, dùng máy lửa gas (bọc trong túi quần), bật châm lửa đốt chiếc chiếu nhựa, rồi bọc máy lửa gas vào túi. Sau khi lửa cháy, H ra phòng khách vác tiếp bàn gỗ ném vào phòng ngủ đang cháy (mục đích để ngăn không cho lửa cháy mùng mền bên cạnh). Sau đó điều khiển xe mô tô 60T4-3220 bỏ đi khỏi nhà. Chị Tr hô hoán cho người dân gần đó đến cứu chữa cháy. Tối cùng ngày, bị cáo về lại nhà và đến Công an huyện Minh Long khai báo sự việc.
Bản kết luận định giá tài sản số 01/BBKL-HĐĐGTS, ngày 13/10/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Minh Long xác định: Tổng giá trị thiệt hại ngôi nhà của chị Tr do bị cháy gây ra vào ngày 26/09/2021 là 30.873.000 đồng.
Cùng ngày 01/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Long đã ra các Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt để tạm giam về hành vi “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với H.
Ngày 24/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long có Cáo trạng số 26/CT-VKSML-HS, truy tố Phạm Thanh H về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, để xét xử.
*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội: Vào trưa ngày 26/9/2021, sau khi xảy ra cải nhau với chị Tr, H đã thực hiện hành vi đốt chiếu nhựa và chiếc bàn gỗ trong phòng ngủ, dẫn đến hậu quả nhà ở của chị Tr bị cháy, gây thiệt hại có giá trị 30.873.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tình tiết chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo biết rõ dùng lửa để đốt tài sản của người khác là hành vi hủy hoại tài sản, là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.
Quá trình tố tụng, bị cáo H khai dùng xăng để đổ vào chiếu nhựa, sau đó bật lửa đốt cháy. Nhưng thực tế, quá trình khám nghiệm hiện trường thì không thu giữ được các vật chứng (do quá trình cháy và chữa cháy) để tiến hành giám định. Do đó, không có cơ sở kết luận chất mà H đã đổ vào chiếc chiếu nhựa để đốt. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long không có căn cứ truy tố trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, mà truy tố bị cáo tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, là đúng quy định pháp luật, nên tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như trên. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
Quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, trước đó đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đồng thời bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178; đồng thời áp dụng Điều 38, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo H mức án từ 09 đến 15 tháng tù.
- Về dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị cáo H bồi thường tiếp cho chị Tr số tiền 5.000.000 đồng, ngoài số tiền 2.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường trước đây.
- Về vâ ̣t chứ ng : Xe mô tô xe biển kiểm soát 60T4-3220, là xe do chị Phạm Thị H (em ruột của H) mua và cho H mượn để sử dụng làm phương tiện đi lại. Cơ quan Cảnh sát diều tra Công an huyện Minh Long đã trả lại xe cho chị H là có căn cứ, nên không đề cập xử lý; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, để nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 01 (một) máy lửa gas màu đỏ, kích thước dài 7,5cm, rộng 02cm, bên trong có chất lỏng, trên bề mặt ốp kim loại của máy lửa có ghi chữ “Hapho.co”, đã qua sử dụng và 01 (một) máy lửa gas màu xanh, kích thước dài 7,5cm, rộng 02cm, bên trong có chất lỏng, trên bề mặt ốp kim loại của máy lửa có ghi chữ “Hapho.co”, đã qua sử dụng.
* Bị cáo H không có ý kiến tranh luận.
* Đại diện theo pháp luật của các bị hại, đồng thời là bị hại chị Đinh Thị Tr trình bày: Về xử lý hình sự, chị Tr đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự, chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho hộ gia đình chị tiếp số tiền 5.000.000 đồng nữa, ngoài số tiền 2.000.000 đồng chị đã nhận trước đây. Ngoài ra, chị Tr không có yêu cầu gì khác.
Ngoài các ý kiến đã nêu trên, bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đều không có ý kiến lập luận nào khác để đối đáp với nhau trong quá trình tranh luận.
* Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Minh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long, Kiểm sát viên, các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về năng lực trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Phạm Thanh H là người có đầy đủ các năng lực về nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và năng lực trách nhiệm dân sự. Vì vậy có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi pha ̣m tô ̣i như sau:
Bị cáo Phạm Thanh H và chị Đinh Thị Tr sống chung với nhau như vợ chồng, cùng sinh sống tại nhà ở của chị Tr (ở thôn Đ, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi). Khoảng 12 giờ trưa ngày 26/9/2021, H và chị Tr phát sinh cải vả nhau. H tức giận nảy ý định đốt vật dụng trong nhà, khi chị Tr dẫn hai con bỏ ra khỏi nhà. H rút xăng trong xe môtô biển kiểm soát 60T4 - 3220 cho vào ca nhựa, đổ lên chiếu nhựa trong phòng ngủ, dùng máy lửa ga châm lửa đốt cháy, sau đó H vác bàn gỗ ném tiếp vào phòng ngủ đang cháy, rồi điều khiển xe mô tô 60T4 - 3220 bỏ đi khỏi nhà. Hậu quả, nhà ở của chị Tr bị cháy hư hỏng, giá trị thiệt hại là 30.873.000 đồng.
Về nguồn gốc và quyền sở hữu ngôi nhà bị cháy: Chị Tr và hai con nhỏ thuộc diện hộ nghèo ở địa phương, năm 2019 được Nhà nước xét, hổ trợ kinh phí số tiền 50.000.000 đồng làm nhà ở Đại đoàn kết. Chị Tr dùng tiền này mua lại ngôi nhà Đại đoàn kết của vợ chồng anh ruột là anh Đinh Văn Tr (xây dựng năm 2014) ở cùng thôn Đ, xã T. Quyền sở hữu ngôi nhà này thuộc hộ gia đình chị Tr (gồm chị và hai con nhỏ).
Xem xét việc truy tố bị cáo H và Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Cáo trạng của Viện kiểm sát và đại diện Viện kiểm sát xác định việc bị cáo H khai đã dùng xăng hút từ xe mô tô chứa vào ca để đổ vào chiếu nhựa, sau đó bật lửa đốt cháy, là không có cơ sở kết luận về chất mà H đã đổ vào chiếc chiếu nhựa để đốt, vì trên thực tế quá trình khám nghiệm hiện trường không thể thu giữ được các các chất là vật chứng để tiến hành giám định để xác định. Do đó, không có cơ sở kết luận chất mà H đã đổ vào chiếc chiếu nhựa để đốt là chất gì. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long không có căn cứ truy tố trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, mà truy tố bị cáo tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. So sánh và đối chiếu giữa lời khai của bị cáo, lập luận của Cáo trạng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và tất cả các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng lời khai của bị cáo về thực hiện hành vi là không có cơ sở vững chắc, vì thực tế quá trình điều tra sau khi vụ cháy xảy ra không thể thu giữ được các chất cần xác định. Do đó, Cáo trạng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát không truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ Luật Hình sự, mà truy tố bị cáo tội danh nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có căn cứ pháp luật, nên được chấp nhận giải quyết.
Xem xét tài liệu, chứng cứ hiện trạng của ngôi nhà do cháy: Phần mái nhà (phòng khách và phòng ngủ): Mái ngói hư hõng hoàn toàn với diện tích 36,5m2, trong đó 2m là chiều rộng 1 cạnh mái = 2,5m x 2 mái x 7,3m chiều dài; 05 cây xà gồ (đà) mái có tổng khối lượng là 0,2285m3, loại gỗ gội tía, nhóm gỗ IV) bị cháy gần như hoàn toàn, không thể tiếp tục sử dụng; 15 cây cầu phông (ron) có tổng khối lượng là 0,1875m3, loại gỗ dẽ, nhóm gỗ IV bị cháy gần như hoàn toàn; Sàn gác lửng bằng gỗ trên phòng ngủ: Bị cháy, chỉ còn sót lại mảnh gỗ dày 03cm: 2,4 x 2,6 = 6,24m2; gỗ sàn là loại gỗ bồ lời, nhóm gỗ IV, có tổng khối lượng là 0, 1872m3; xà gồ đỡ sàn là gỗ gội tía, thuộc nhóm gỗ IV có khối lượng là: 03 cây x 0.05 x 0,1 x 2,6 = 0,039m3; Tường nhà của phòng khách và phòng ngủ: Tường nhà xây bằng gạch tuynel, trát tường, quét vôi bị hoen ố màu do cháy có tổng diện tích 91,84m2 (trong đó: mặt tường trong và ngoài phòng ngủ hoen ố 36,48m2; phần tường trong phòng ngủ bong lớp trát tường lộ gạch diện tích 3,12m2 và mặt tường trong của phòng khách hoen ố 55,36m2), không còn hiệu quả sử dụng.
Khẳng định việc phạm tội của bị cáo: Sự khai nhận tội của bị cáo H tại phiên tòa là thành khẩn, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ khác, phù hợp với lời luận tội của đại diện Viê ̣n kiểm sát, phù hợp với tất cả các tình tiết trong vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Khẳng định bị cáo H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i , biểu hiện ý thức xem thường quy tắc của đời sống xã hội, kỷ cương pháp luật của Nhà nước, cần được xử lý nghiêm minh bằng chế tài hình sự nghiêm khắc.
Về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại; đại diện hợp pháp của các bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tinh ti ết tăng nặng, có đặc điểm nhân
̀
thân xấu ( có 01 tiền sự). Do đó, cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hinh pha ̣t ta ̣i
̀ cơ sở giam giữ trong mô ̣t thờ i ha ̣n nhất đi ̣nh (theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự), để có tác dụng giáo dục, răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc bị cáo bồi thường tiếp cho hộ gia đình bị hại số tiền 5.000.000 đồng (theo yêu cầu của bị hại), ngoài số tiền 2.000.000 đồng mà chị Tranh đã nhận bồi thường trước đây, là phù hợp quy định tại các điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự.
Xử lý vâ ̣t chứ ng:
Xe mô tô biển kiểm soát 60T4 - 3220 chủ sở hữu là chị Phạm Thị H (em ruột của bị cáo H) cho H mượn sử dụng, không phải là vật chứng của vụ án (đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Long trả lại cho chủ sở hữu), nên không giải quyết.
02 máy lửa gas (có cùng kích thước dài 7,5cm, rộng 02cm, trên bề mặt ốp kim loại ghi chữ Hapho.co), gồm 01 máy lửa ga màu đỏ và 01 máy lửa ga màu xanh, là các vật chứng trong vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy, là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (các vật chứng trên đang lưu tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Long, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/12/2021 của Công an huyện Minh Long và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Long).
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự trong hình sự sơ thẩm, là phù hợp với quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị hại đồng thời là bị hại theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh H phạm tội “Hủy hoại tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sử a đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2021.
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
- Áp dụng các điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo H phải tiếp tục bồi thường cho hộ gia đình chị Đinh Thị Tr (do chị Tr đại diện) số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), ngoài số tiền bị cáo đã bồi thường trước.
* Về xử lý vật chứ ng:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 02 máy lửa gas, gồm: 01 máy lửa ga màu đỏ và 01 máy lửa ga màu xanh (cả hai máy lửa đều có cùng kích thước dài 7,5cm, rộng 02cm và trên bề mặt ốp kim loại cùng ghi chữ Hapho.co).
Các vật chứng trên đang lưu tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Long, theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Long và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Long ngày 24/12/2021.
*Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự trong hình sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng), thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luật của các bị hại đồng thời là bị hại có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo Phạm Thanh H; - Đại diện các bị hại đồng thời bị hại; - TAND tỉnh Quảng Ngãi; -VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Minh Long; - Công an huyện Minh Long; - Cơ quan THAHS; - Chi cục THADS huyện Minh Long; - Sở Tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Kim Vân. |