- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn L giải mạo tài liệu của cơ quan nhà nước - phạm tội giả mạo trong công tác (điều 359 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Ủy Ban nhân dân xã Thanh Cao, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HSST Ngày 28/01/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: L Đắc Tỵ, Nguyễn Thị Khánh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thắm, Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiến - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai tại trụ ngày 28/01/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2021/HSST ngày 01/11/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36B/2021/QĐXXST-HS ngày 13/12/2021, đối với bị cáo:
Họ và Tên: BÙI VĂN L, tên gọi khác: không; sinh năm 1982 tại Lương Sơn, Hòa Bình; Nơi đăng ký NKTT và cư trú: ST, TL, Lương Sơn, Hòa Bình; Nghề nghiệp: viên chức; Nơi làm việc: Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy; Văn hóa phổ thông: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Bố là: Bùi Xuân T; Mẹ là: Nguyễn Thị K; Vợ là: Đinh Thị H1; Có 02 con
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại: Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Văn H, sinh năm 1983; Địa chỉ: tổ 02, phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình;
2/ Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu Đoàn Kết, thị trấn Ba
Hàng Đồi, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình;
3/ Trịnh Tuấn Đ, sinh năm 1988; Địa chỉ: xóm Tân Sơn, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình;
4/ Hoàng Văn H2, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xuy Xá, Mỹ Đức, Hà Nội;
5/ Lưu Công Ch, sinh năm 1969; Địa chỉ: Nhân Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa Bình.
6/ Nguyễn Xuân B1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Trung Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình.
7/ L Đình Đ1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Trần Phú, Chương Mỹ, Hà Nội;
8/ Hồ Tiến C2, sinh năm 1967; Địa chỉ Tổ 3 phường Thống nhất, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
9/ Cao văn H3, sinh năm 1962; Địa chỉ: Vân Đình, Ứng Hòa, Hà Nội.
10/ Trần Văn Th1, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ, Hà Nội.
11/ Hoàng Văn V2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Yên Bình, Thị trấn Hàng Trạm, Yên Thủy, Hòa Bình.
12/ Bùi Văn N4, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu phố hàng Trạm, Yên Thủy, Hòa Bình
13/ Bà Đỗ Thị Tuyết M, sinh năm 1981; Phó Trưởng phòng Tổ chức, Hành chính Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
14/ Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; Địa chỉ: Khu 3, thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn Đang (Giám đốc);
15/ Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển năng lượng Việt Nam; Địa chỉ: Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội (Đại diện theo pháp luật: ông Lại Thế Vĩnh giám đốc công ty);
16/ Trường trung cấp kinh tế, kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình; Địa chỉ: xóm Bến Cuối, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Đại diện là Hiệu trưởng nhà trường.
Người làm chứng:
1/ Bùi Văn L1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình.
2/ Trần Thu Tr, sinh năm 1989; Địa chỉ: tổ 1, phưởng Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình
3/ Hoàng Thu H1, sinh năm 1975; Địa chỉ: thị trấn Chi Nê, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
4/ Phạm Văn T2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu Quyết Tiến, thị trấn Ba Hàng Đồi, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
5/ Vũ Duy T3, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tân Thắng, Phú Thành, Lạc Thủy, Hòa Bình
6/ Đinh Văn L2, sinh năm 1996; Địa chỉ: An Ninh, Phú nghĩa, Lạc Thủy, Hòa Bình.
7/ Đinh Minh Đ1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Đồng Tiến, Phú Thành, Lạc Thủy, Hòa Bình.
8/ Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu Đồi, thị trấn Ba Hàng Đồi, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
9/ Bùi Văn T2, sinh năm 1988; Địa chỉ: Đông Bắc, Kim Bôi, Hòa Bình.
10/ Bùi Văn M, sinh năm 1979; Địa chỉ: Sơn Thủy, Kim Bôi, Hòa Bình.
11/ Bùi Văn H4, sinh năm 1980; Địa chỉ: Đông Bắc, Kim Bôi, Hòa Bình.
12/ Bùi Văn Thành Đ, sinh năm 1993; Địa chỉ: Chợ Bến, Thanh Cao, Lương Sơn, Hòa Bình.
13/ Nguyễn Văn M3, sinh năm 1986; Địa chỉ: Song Huỳnh, Thanh Cao, Lương Sơn, Hòa Bình.
14/ Nguyễn Hữu H7, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xuân Dương, Thanh Cao, Lương Sơn, Hòa Bình.
15/ Bùi Thị Qu, sinh năm 1978; Địa chỉ: thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình.
16/ Nguyễn Thị Hảo, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tiền Phong, Nhân Nghĩa. Lạc Sơn, Hòa Bình.
17/ Nguyễn Thị Hn, sinh năm 1979; Địa chỉ: khu Yên Phong, thị trấn Hàng Trạm, Yên Thủy, Hòa Bình
18/ Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1979; Địa chỉ: khu Tân Bình, thị trấn Hàng Trạm, Yên Thủy, Hòa Bình.
19/ Bùi Đức Tn, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu Tân Bình, thị trấn Hàng Trạm, Yên Thủy, Hòa Bình.
20/ Phan Huy Tng, sinh năm 1962; Địa chỉ: Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình.
21/ Bùi Thi Hng, sinh năm 1982; Địa chỉ: phố Nghĩa Dân, Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình.
22/ Nguyễn Thị Hn, sinh năm 1982; Địa chỉ: Cư Yên, Lương Sơn, Hòa Bình.
23/ Bùi Văn Q; Địa chỉ: Yên Nghiệp, Lạc Sơn, Hòa Bình.
24/ Nguyễn Thị Thúy H; Địa chỉ: phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
25/ Nguyễn Thị Bích H; Địa chỉ: Cố Nghĩa, Lạc Thủy, Hòa Bình.
26/ Nguyễn Văn Đ; Địa chỉ: Yên Nghiệp, Lạc Sơn, Hòa Bình
27/ Phạm Văn Hng; Địa chỉ: Bảo Hiệu, Yên Thủy, Hòa Bình.
28/ Nguyễn Ngọc Vt; Địa chỉ: Liên Vũ, Lạc Sơn, Hòa Bình.
29/ Nguyễn Thị T7; Địa chỉ: Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình
30/ Đặng Thị Hồng Nhng; Địa chỉ: Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình
31/ Ông Trương Hoàng Sn; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
32/ Ông Trần Anh Phg; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
33/ Ông Tạ Việt Dng; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
34/ Bà Dương Thủy L; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
35/ Bà Trần Thanh H7; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
36/ Bà Phạm Thị Ln; Công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Thông qua nguồn tin báo của quần chúng nhân dân, Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Hòa Bình tiến hành xác minh công tác đào tạo, sát hạch, cấp bằng lái xe ô tô các hạng B1, B2 của Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình. Bước đầu phát hiện 05 giấy khám sức khỏe trong hồ sơ của Phan Huy Tưởng, Nguyễn Thị Tơ, Đặng Thị Hồng Nhung, Bùi Văn Tài, Bùi Thị Hồng có dấu hiệu giả mạo (Các Giấy này do Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy cấp). Kết quả giám định khoa học hình sự khẳng định chữ ký, chữ viết ghi danh các bác sỹ Trương Hoàng Sơn, Trần Anh Phương, Tạ Việt Dũng, Dương Thủy Linh, Trần Thanh Hà, Phạm Thị Lan trong 05 Giấy khám sức khỏe này bị giả mạo, không phải do các bác sỹ này ký và viết ra.
Mở rộng điều tra, Cơ quan Công an phát hiện thêm 25 Giấy khám sức khỏe của 25 học viên khác cũng bị làm giả với thủ đoạn tương tự.
Nhận thức được hành của bản thân là vi phạm, ngày 29/01/2021 Bùi Văn L đã tự giác đến Cơ quan điều tra để đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Cụ thể như sau:
Bùi Văn L quen biết Nguyễn Văn Hào là giáo viên dạy lái xe tại Trường trung cấp kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình. Biết L công tác tại Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy, nên tháng 5 năm 2020, Hào bảo L làm giúp Giấy khám sức khỏe cho học viên. Bản thân L làm ở bộ phận hành chính của Trung tâm ý tế, có lúc được tiếp súc với con dấu của đơn vị, nên nảy sinh ý định làm giả Giấy khám sức khỏe để thu lợi. L Thỏa thuận với Hào mỗi Giấy khám sức khỏe Hào thanh toán cho L 150.000 đồng.
Sau khi thống nhất với L, trong tháng 5 và tháng 6 năm 2020, Hào và 11 giáo viên khác của Trường gồm: Hoàng Văn Hưởng, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Công Chiến, Bùi Văn Nam, Cao Văn Hổ, Hồ Tiến Công, Nguyễn Xuân Bình, Hoàng Văn Viễn, L Đình Điệp, Trần Văn Thắng, Phạm Anh Hùng và ông Trịnh Tuấn Đạt phó trưởng phòng đào tạo gửi danh sách 30 học viên cho L để làm Giấy khám sức khỏe.
Quá trình làm thủ tục, các học viên bận không có mặt được, nên Bùi Văn L yêu cầu Hào cung cấp thông tin và ảnh của học viên để L làm Giấy khám sức khỏe vắng mặt họ. Hào đã gửi ảnh và thông tin học viên cho L. L đã tự lập Giấy khám sức khỏe, để trống phần ghi họ tên, thông tin cá nhân của học viên; ghi mạo nội dung kết luận tình trạng sức khỏe của học viên và ký mạo chữ ký của các bác sỹ; ký mạo chữ ký của Phó Giám đốc Trung tâm ý tế huyện Lạc Thủy (Trương Hoàng Sơn). Sau đó lợi dụng giờ nghỉ trưa vắng vẻ, L triện dấu của Trung tâm y tế và triện dấu chức danh phó Giám đốc Trương Hoàng Sơn vào 30 giấy khám sức khỏe giả do mình lập ra rồi chuyển cho Hào để sử dụng và thu lợi bất chính được 4.500.000 đồng. Sau khi nhận Giấy khám sức khỏe giả đó, các học viên đã tự điền họ tên, thông tin cá nhân của bản thân vào giấy, nộp cho Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình để đưa vào hồ sơ đào tạo, sát hạch lái xe.
[2] Kết quả giám định khoa học hình sự khẳng định:
- Chữ ký, chữ viết tại Mục II và III (Mục khám cận lâm sàng) và chữ ký dưới mục Người kết luận trên 30 giấy khám sức khỏe của người lái xe là do Bùi Văn L viết và ký ra.
- Hình dấu tròn có nội dung: “Sở y tế tỉnh Hòa Bình - Trung tâm ý tế huyện Lạc Thủy” và hình dấu chức danh: “Phó Giám đốc Trương Hoàng Sơn” trên 30 giấy khám sức khỏe của người lái xe được đóng ra từ con dấu thật của Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy.
- Chữ viết tại mục “Số…/GKSK-TTYT” trên 30 giấy khám sức khỏe của người lái xe là chữ viết của Bùi Văn L.
[3] Quá trình điều tra, Bùi Văn L đã giao nộp 4.500.000 đồng thu lợi bất chính.
[4] Cáo trạng số 66/CT-VKS-P1 ngày 22/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
[5] Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng có quan điểm như sau:
*Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Bùi Văn L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341, Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn L 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, sung công 4.500.000 đồng thu lợi bất chính của Bùi Văn L.
*Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân phù hợp Cáo trạng, các tài liệu, chứng cứ phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thừa nhận Cáo trạng truy tố bản thân về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là đúng.
*Giám đốc Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; đảm bảo răn đe, giáo dục nhưng cũng tạo điều kiện cho bị cáo nhận thức, sửa chữa lỗi lầm, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{6} Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát đã áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự, pháp luật tố tụng Hình sự theo quy định chung đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Bản thân bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
{7} Bùi Văn L có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã làm giả 30 Giấy khám sức khỏe của Trung tâm ý tế huyện Lạc Thủy để thu lợi bất chính là phạm tội “Làm giả tài liệu của Cơ quan, tổ chức”, thuộc điểm a khoản 3 điều 341 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm hại sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; là nguyên nhân phát sinh các hậu quả khó kiểm soát trong xã hội; gây mất trật tự trị an, nên phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.
{8} Khi lượng hình cũng xét bị cáo biết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự giác ra đầu thú và giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính; Trước khi phạm tội bản thân chưa có tiền án, tiền sự; sinh ra trong gia đình có công với nước, có công với cách mạng (Ông nội của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhất). Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để áp dụng cho bị cáo và có thể cho bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, tạo cơ hội cho bị cáo tự nhận thức, sửa chữa lỗi lầm, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
{9} 4.500.000 đồng thu lợi bất chính, bị cáo đã nộp cần tịch thu, sung công.
{10} Xét Nguyễn Văn Hào, Trịnh Tuấn Đạt và 11 giáo viên gồm: Hoàng Văn Hưởng, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Công Chiến, Bùi Văn Nam, Cao Văn Hổ, Hồ Tiến Công, Nguyễn Xuân Bình, Hoàng Văn Viễn, L Đình Điệp, Trần Văn Thắng, Phạm Anh Hùng là người nhờ Bùi Văn L làm giấy khám sức khỏe cho các học viên nhưng không biết L làm giấy khám sức khỏe giả, nên Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát không đề cập xử lý về hình sự, nay không xét.
{11} Xét 30 học viên đã nộp Giấy khám sức khỏe do L làm giả để Trường Trung cấp kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình đưa vào hồ sơ đào tạo, sát hạch lái xe ô tô nhưng không hiểu đó là Giấy tờ giả, nên Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát không đề cập xử lý về hình sự, nay không xét.
{12} Sau khi hay tin 30 học viên trong vụ án đã nộp Giấy khám sức khỏe giả để học và thi sát hạch lái xe ô tô, Sở Giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình đã yêu cầu những người này đến cơ sở y tế có thẩm quyền để khám sức khỏe. Kết quả cả 30 người đều đủ sức khỏe theo yêu cầu. Do đó việc Sở Giao thông vận tải không thu hồi giấy phép lái xe của họ là phù hợp.
- Quá trình tiến hành tố tụng, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã có công văn kiến nghị Sở Giao thông vận tải có hình thức xử lý đối với việc sử dụng Giấy khám sức khỏe giả của cán bộ, giáo viên và 30 học viên là phù hợp, nay không đề cập lại.
- Để đảm bảo ngăn ngừa vi phạm, cần thiết phải kiến nghị Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục sơ hở trong công tác quản lý nghiệp vụ, con dấu tại đơn vị và kiến nghị Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật công nghiệp Hòa
Bình có biện pháp xử lý thỏa đáng đối với cán bộ, giáo viên có liên quan đến sai phạm.
{13} Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 3 điều 341; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy Ban nhân dân xã Thanh Cao, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người bị kết án cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở Ln, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp người bị kết án thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, sung công 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính mà Bùi Văn L đã giao nộp và đang được Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy quản lý (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 26/10/2021 với Công an tỉnh Hòa Bình).
3. Áp dụng: điểm h khoản 3 điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự, kiến nghị Trung tâm y tế huyện Lạc Thủy có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục sơ hở trong công tác quản lý nghiệp vụ, con dấu tại đơn vị và kiến nghị Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật công nghiệp Hòa Bình có biện pháp xử lý thỏa đáng đối với cán bộ, giáo viên có liên quan đến sai phạm.
4. Áp dụng: điều 135; điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội, buộc Bùi Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, Người liên quan được quyền kháng cáo phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận kết quả xét xử hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh HB’ - Công an cùng cấp; - Bị cáo; Người có QL.NVLQ; - Chi cục THADS cùng cấp; - Sở tư pháp tỉnh HB; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Ngà |