- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày: 06/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Tám.
2. Bà Đặng Thị Tiềm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa có: Ông Đặng Duy T4, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1990 tại Tiền Giang.
Nơi cư trú: Ấp Q, xã T, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Huỳnh Thị N (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không. Tiền sự: + Lần 1: Ngày 10/4/2018, Nguyễn Văn T1 bị Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Cai Lậy ra Quyết định áp dụng giáo dục tại xã 03 tháng, chấp hành xong ngày 10/7/2018 nhưng đến ngày 13/7/2019 T1 tiếp tục vi phạm; + Lần 2: Ngày 28/8/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 67/2019/QĐ-TA ngày 28/8/2019, trong thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 01/01/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Đinh Duy C, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 1 đường Y, phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990, nơi cư trú: ấp Q, xã T, thị xã Cai Lậy mở quán nước không biển hiệu tại ấp Li, xã N, thị xã Cai Lậy, cùng với Hồ Quốc T2 (tên tH goi là X), sinh năm 1997, nơi cư trú: khóm 2, phường B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang (T1 và T2 giới tính nam, giả nữ) nhằm massage kích dục rồi lợi dụng sơ hở của khách để trộm cắp tài sản chia nhau tiêu xài.
Khoảng 01 giờ ngày 03/9/2021, anh Đinh Duy C, sinh năm 1980, cư trú: Số 1 đường Y, phường B, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 63C- 046.00 lưu thông trên quốc lộ 1A theo hướng Mỹ Thuận - Trung Lương, khi đến đoạn thuộc ấp Li, xã N, thị xã Cai Lậy, anh C dừng xe vào sát lề lộ, xuống xe đi vào quán nước của T1 gặp Hồ Quốc T2 gợi ý massage kích dục cho C giá 250.000 đồng, C đồng ý, còn T1 nằm trong phòng dùng để massage cho khách cùng với Phạm Phi T3, sinh năm 1996, cư trú: ấp 1, xã M, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nghe, nên T1 và T3 bỏ đi ra phía sau quán để T2 dẫn khách vào phòng massage. Trong lúc T2 cởi quần anh C để massage, T2 lén lấy trộm chìa khóa xe ô tô tải của C rồi kêu T1 vào thay T2 kích dục cho C, T1 biết T2 lấy cắp được chìa khóa xe của anh C nên vào massage cho anh C để T2 ra xe lấy cắp tài sản. Khi T1 vào phòng massage cho anh C thì T2 đi đến xe ô tô tải dùng chìa khóa lấy trộm được mở cửa lên cabin xe ô tô tải biển số 63C-046.00 lấy trộm số tiền 30.000.000 đồng của anh C, lấy trộm xong T2 đi trở vào phòng bỏ chìa khóa xe gần chỗ để quần của anh C rồi nói với T1 là “Tiền tươi, hết giờ rồi”, T1 nghe hiểu và biết T2 lấy được nhiều tiền nên T1 bỏ đi ra ngoài dùng điện thoại di động nhắn tin nhờ Quách Anh H, sinh năm 1998 đang bán quán nước gần đó mượn xe mô tô lên chở T1 và T2 về nhà T1 tại ấp Q, xã T, thị xã Cai Lậy, còn anh C bận quần vào rồi lấy chìa khóa ra xe ô tô để về thì phát hiện mất số tiền 30.000.000 đồng nên truy hô và đến Công an xã N, thị xã Cai Lậy trình báo.
Sau khi Quách Anh H đọc được tin nhắn của T1 nên mượn xe mô tô biển số 63B2-266.63 của Cao Thị Kim T4, sinh năm 1982 cùng làm chung quán nước với H chạy xe mô tô đến gặp Phạm Phi T3, T2 và T1 nên đưa xe cho T3 điều khiển chở T1 và T2 về nhà T1 rồi chạy xe trở lại trả cho Huỳnh Thăng L, sinh năm 1981 (chồng của T4). Khi T1 và T2 vào trong nhà T1 thì T2 đưa cho T1 số tiền 30.000.000 đồng nói là tiền vừa trộm được, T1 nhận tiền rồi đến nhà bà Trần Thị H, sinh năm 1944 (bà nội của T1, liền kề với nhà T1) vào phòng ngủ bà H cất giấu. Đến chiều ngày 03/9/2021 T1 đến Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình và chỉ nơi cất giấu vật chứng.
Vật chứng của vụ án gồm: số tiền 30.000.000 đồng tiền Việt Nam (hiện đã trả lại cho anh Đinh Duy C).
Cáo trạng số 80/CT-VKSTXCL ngày 12/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Văn T1 tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng: Đã xử lý xong nên không xem xét, bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T1, bị hại anh Đinh Duy C không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong suốt quá trình điều tra và taïi phieân toøa sơ thẩm, bò caùo Nguyễn Văn T1 khai nhận như sau: Do có ý định trộm cắp tài sản từ trước nên bị cáo cùng với Hồ Quốc T2 là nam giả nữ mở quán nước không biển hiệu tại ấp Li, xã N, thị xã Cai Lậy nhằm massage kích dục rồi lợi dụng sơ hở của khách để trộm cắp tài sản chia nhau tiêu xài. Khoảng 01 giờ ngày 03/9/2021 tại ấp Li, xã N, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Văn T1 đã có hành vi lén lút trộm số tiền 30.000.000 đồng của anh Đinh Huy C. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ để tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đồng thời nhận thức được việc trộm cắp tài sản là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện bản tính tham lam, chay lười lao động muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân mà không cần phải hao tốn sức lao động. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần đối với người bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự gây hoang mang cho người dân sinh sống tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình và chỉ nơi cất giấu vật chứng nên được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Hồ Quốc T2, có hành vi cùng với bị cáo trộm cắp tài sản của anh Đinh Duy C, nhưng sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản T2 đã bỏ trốn, chưa làm việc được nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Phạm Phi T3 có hành vi dùng xe mô tô nhãn hiệu Novo biển kiểm soát 63B2-266.63 do Quách Anh H đưa để chở bị cáo và T2 về nhà bị cáo, nhưng T3 không biết việc bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Đinh Duy C, do đó T3 không có dấu hiệu tội phạm.
Quách Anh H có hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Novo biển kiểm soát 63B2-266.63của Cao Thị Kim T4 để đưa cho Phạm Phi T3 chở và T2 về nhà bị cáo. Ngoài ra H cũng có hành vi mua ma túy sử dụng, nhưng hiện tại H đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Cao Thị Kim T4 không biết bị cáo trộm tiền nên cho Quách Anh H mượn xe để chở bị cáo về nhà cất giấu tiền; bà Trần Thị H không biết bị cáo giấu tiền trong phòng ngủ nên T4 và H không có dấu hiệu tội phạm.
Điện thoại di động của bị cáo đã dùng nhắn tin cho Quách Anh H sau khi trộm cắp xong lên chở bị cáo đi nhưng điện thoại của bị cáo bị mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSNDTXCai Lậy;
- Cơ quan THADSTXCai Lậy;
- Bị cáo;
- Bị hại;
Dương Thị Hằng Ni
- Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSNDTXCai Lậy;
- Cơ quan THADSTX Cai Lậy;
- Bị cáo; bị hại;
Dương Thị Hằng Ni
- Người liên quan;
- Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSNDTXCai Lậy;
- Cơ quan THADSTX Cai Lậy;
- Bị cáo; bị hại;
Lê Thị Hồng Tâm
- Người liên quan;
- Lưu hồ sơ, án văn. TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ CAI LẬY
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH TIỀN GIANG
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi
giờ 00 ngày 06 tháng 01 năm 2022;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tám và bà Đặng Thị Tiềm
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021 đối với:
Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/4/1990 tại tỉnh Tiền Giang;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC
VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 (100%)
3. Về các vấn đề khác:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ
Kết quả biểu quyết 3/3 (100%)
Nghị án kết thúc vào hồi
giờ
phút, ngày 06 tháng 01 năm 2022.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)