- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-ST Ngày 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Lợi
Bà Lê Thị Bích Thuần
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình), sinh ngày 10 tháng 01 năm 1995 tại thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Trại, thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Bột và con bà Nguyễn Thị Nhu; có vợ là Nguyễn Thị Hồng Ngọc (Đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16 tháng 9 năm 2021 đến ngày 19 tháng 9 năm 2021 được tại ngoại “có mặt”.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Cườn, sinh năm 1982; trú tại: Tổ dân phố Trại, thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Nhu, sinh năm 1962; trú tại: Tổ dân phố Trại, thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
Ông Lê Văn Cản, sinh năm 1964; trú tại: Tổ dân phố Thượng Đức, thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Bảvà anh Nguyễn Văn Cườn là anh, em họ và chơi cùng với nhau. Do không có tiền chi tiêu cá nhân và Bản biết anh Cường có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air blade màu sơn đen, biển kiểm soát: 88G1-218.47 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khoảng 15 giờ ngày 09 tháng 9 năm 2021, Bản đến nhà anh Cường gặp và nói dối anh Cường mượn xe để đi chữa bệnh, anh Cường tin tưởng nên đồng ý, đưa Giấy đăng ký và xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 của mình cho Bản mượn. Sau đó, Bản điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 về nhà mà không đi chữa bệnh, đến khoảng 16 giờ cùng ngày Bản điều khiển xe mô tô đến gặp ông Lê Văn Cản là người chuyên mua bán xe máy cũ, đặt vấn đề bán xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 cho ông Cảnh. Ông Cảnh hỏi nguồn gốc xe thì Bản nói dối là của anh họ cho Bản và đưa giấy đăng ký xe mô tô cho ông Cảnh xem. Ông Cảnh tin lời Bản nói nên kiểm tra xe, sau đó đồng ý mua xe với giá 16.500.000 đồng và yêu cầu Bản viết giấy bán xe. Bản đồng ý bán xe cho ông Cảnh và cầm tiền bán xe đem trả 5.000.000 đồng cho chị gái là Nguyễn Thị Bích, số tiền còn lại Bản tiêu sài cá nhân hết. Không thấy Bản trả lại xe, anh Cường nhiều lần liên hệ với Bản để đòi xe nhưng không được nên đã gửi đơn trình báo đến Công an huyện Bình Xuyên. Ngày 16 tháng 9 năm 2021, Bản đến Công an huyện Bình Xuyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 do ông Lê Văn Cản giao nộp và số tiền 5.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Bích giao nộp để phục vụ công tác điều tra.
Kết luận định giá số 122/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 9 năm 2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Bình Xuyên kết luận: Xe mô tô Honda Air blade, biển kiểm soát: 88G1-218.47 trị giá 21.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 155/CT-VKSBX ngày 30 tháng 11 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày và xác nhận việc bị cáo trình bày về việc bị cáo hỏi mượn xe của anh để đi chữa bệnh sau đó không đi chữa bệnh mà lại mang xe đi bán là đúng. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại xe mô tô nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về phần dân sự. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn Cản vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày và xác nhận lời khai của bị cáo là đúng. Ông là người mua bán xe cũ nên khi Bản mang xe đến bán, xe đủ giấy tờ và tin lời Bản nói nên đã đồng ý mua xe với giá 16.500.000 đồng. Sau khi biết xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 là tài sản do phạm tội mà có ông đã tự nguyện nộp tại cơ quan điều tra để phục vụ điều tra. Số tiền ông mua xe của cho Bản, bà Nhuệ là mẹ đẻ của Bản đã thanh toán trả cho ông nên ông không yêu cầu Bản phải bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Nhu trình bày và xác nhận việc bị cáo trình bày về việc bị cáo tác động với bà nhờ bà bồi thường cho ông Cảnh và bà đã dùng tiền của mình để bồi thường cho ông Cảnh là đúng. Số tiền 5.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Bích giao nộp tại cơ quan điều tra là tiền do Bản bán tài sản phạm tội mà có sau đó Bản đem trả cho chị Bích, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà. Số tiền còn lại mà bà đã bỏ ra bồi thường hộ cho Bản nhưng do Bản là con trai bà nên bà cho Bản và không yêu cầu Bản phải bồi thường cho bà về phần dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Do có ý định muốn chiếm đoạt tài sản là xe mô tô của anh Nguyễn Văn Cườn ở tổ dân phố Trại, thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc nên khoảng 15 giờ ngày 09 tháng 9 năm 2021 Bản đến nhà anh Cường. Khi gặp anh Cường Bản đã dùng lời nói gian dối (Hỏi mượn chiếc xe mô tô để đi chữa bệnh) để chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 88G1-218.47 có trị giá 21.000.000 đồng của anh Cường. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định: "1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang nghi ngờ trong quần chúng nhân dân trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan điều tra đầu thú và đã tác động với gia đình nhờ bồi thường khắc phục hậu quả; bố bị cáo là ông Nguyễn Thành Bột được tặng huy chương kháng chiến hạng Nhì; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn định nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác: Đối với xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển kiểm soát: 88G1-218.47, quá trình điều tra xác định là của anh Nguyễn Văn Cườn nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Cường, sau khi nhận lại tài sản, anh Cường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với ông Lê Văn Cản là người mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air blade biển kiểm soát: 88G1-218.47 mà Bản đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Cườn. Quá trình điều tra xác định ông Cảnh không biết chiếc xe mô tô này do Bản phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông Cảnh. Đối với số tiền 16.500.000 đồng là tiền ông Lê Văn Cản mua xe mô tô của Bản. Quá trình điều tra Bản đã tác động nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Nhu bồi thường giúp. Ngày 17 tháng 9 năm 2021, bà Nhuệ đã bồi thường cho ông Cảnh số tiền 16.500.000 đồng. Sau khi nhận lại số tiền trên ông Cảnh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Bích giao nộp tại cơ quan điều tra, quá trình điều tra xác định là tiền Bản phạm tội mà có, sau đó Bản đem trả cho chị Bích. Chị Bích không biết hành vi phạm tội của Bản, Bản cũng không nói cho chị Bích biết nguồn gốc số tiền do phạm tội mà có. Bà Nhuệ mẹ đẻ của Bản đề nghị được nhận lại số tiền 5.000.000đồng do bà đã thay Bản bồi thường cho ông Cảnh nên Cơ quan điều tra đã trả lại 5.000.000 đồng cho bà Nhuệ. Nay bà Nhuệ không yêu cầu Bản phải trả số tiền còn lại mà bà đã bồi thường giúp Bản nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bản cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đạo, huyện Bình , tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Bả(tên gọi khác Nguyễn Văn Bình) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Bình Xuyên; - CQĐT - CA huyện Bình Xuyên; - CQCSTHAHS-CA huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Thị Tố Uyên |