- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-ST, ngày 03/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HS-PT Ngày: 08 - 02 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Dũ.
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2021/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thành L, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Thành L, sinh ngày 07/9/1987, tại thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Hùng, sinh năm 1955 (chết) và bà Thạch Thị R, sinh năm 1955 ngụ cùng địa chỉ với bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không (Ngày 29/4/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng kết án 02 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích" nhưng đã được xóa án tích); tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 01/10/2019, Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi "Đánh nhau và Gây rối trật tự công cộng có mang theo vũ khí thô sơ", chưa thực hiện xong); nhân thân: Anh chị em ruột gồm 07 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1992. Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/8/2021 và Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục áp dụng từ ngày 20/12/2021 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn B - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Trong vụ án còn có một số người có quyền và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến việc kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập; Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập người làm chứng và người chứng kiến.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng của Viện kiểm sát, Bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án, quyết định bản án sơ thẩm và nội dung kháng nghị được tóm tắt như sau:
Nguyên vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 29/7/2021, Đinh Hoàng Đắng là cán bộ thuộc Công an thị trấn K cùng với Phan Hòa N, Nguyễn Văn L là bảo vệ dân phố thị trấn K và Thạch Hoàng T là dân quân tự vệ thị trấn K được phân công trực chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid 19 theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính Phủ (tại ngã ba Cầu T, thuộc ấp A, thị trấn K) thì phát hiện Lâm D đang dẫn xe môtô biển kiểm soát 52T5 -22xx của L bị hư đi từ hướng xã T về thị trấn K nên anh Đ ra hiệu lệnh cho D dừng xe lại để kiểm tra theo quy định, lúc này bị cáo Nguyễn Thành L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 51X2 -1943 chở Nguyễn Thiện V (em ruột của bị cáo L) từ hướng xã T về thị trấn K chạy đến. Khi anh Đ hỏi lý do ra đường trong thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính Phủ thì V và L trình bày xe bị hư nên đem xe đi sửa. Lúc này, anh Đ giải thích chỉ cho một người đi qua chốt để sửa xe, còn lại hai người phải quay về nhưng bị cáo L không đồng ý, bị cáo L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 51X2 -19xx chở V và dùng chân đẩy xe môtô biển kiểm soát 52T5 -2239 do D đang ngồi trên xe để đi qua chốt. Anh Đ ngăn lại nên bị cáo L bước xuống xe nói với lực lượng đang làm nhiệm vụ “bữa nay ai ngăn cản không cho qua chốt là tao đâm, tới đâu thì tới”, lực lượng làm nhiệm vụ tiếp tục giải thích và yêu cầu hai người quay về thì bị cáo L dùng lời lẽ thô tục chửi, xúc phạm và hăm dọa dùng dao chém lực lượng đang làm nhiệm vụ. Lúc này anh T nói với anh Đ “Anh giải quyết không được thì điện báo Công an thị trấn đến giải quyết” bị cáo L nghe T nói vậy nên quay sang dùng tay chỉ vào mặt T chửi thề, dọa dùng dao đâm T và đi tới gần T để đánh anh T, thì T lùi lại, anh Đ ngăn cản thì bị cáo L dùng tay xô đẩy Đ ra để tiến lại gần anh T, anh Đ ngăn không được nên dùng súng đạn cao su đưa lên bắn chỉ thiên để cảnh cáo bị cáo L. Bị cáo L không chấp hành mà tiếp tục chửi thề và kêu D về lấy cây dao mã tấu tự chế cho L để chém lực lượng thi hành công vụ, nhưng D không đi, bị cáo L nói “Mày không đi thì anh đi”, nói xong L chợt nhớ trong cốp xe của L có cây dao Thái Lan nên L đi lại cốp xe mô tô, biển kiểm soát số 52T5 -2239 dùng tay mở cốp xe lên lấy cây dao thì bị anh Đ và anh Huỳnh Tấn E - cán bộ Công an huyện trên đường đi làm về can ngăn không cho L mở cốp xe lên. Anh Đ điện thoại báo cáo vụ việc đến Lãnh đạo Công an thị trấn K, sự việc kéo dài đến khi Công an thị trấn đến mời bị cáo L, V và D về Cơ quan làm việc nhưng bị cáo L không chấp hành mà tiếp tục có hành vi chửi lớn tiếng, xúc phạm lực lượng làm nhiệm vụ nên Công an thị trấn khống chế L đưa về Cơ quan Công an thị trấn K làm việc. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS-H.KS, ngày 13/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tại Bản án sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng, đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, về án phí sơ thẩm, về thời hạn và quyền kháng cáo theo luật định.
* Ngày 03/12/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-ST, kháng nghị phần áp dụng hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng áp dụng điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành L và xác định lại tư cách tham gia tố tụng của Đinh Hoàng Đắng, Thạch Hoàng T.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính hợp lệ và tính có căn cứ của kháng nghị, giữ nguyên nội dung kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành L từ 03 đến 06 tháng tù và xác định lại tư cách tham gia tố tụng của Đinh Hoàng Đ, Thạch Hoàn T.
* Người bào chữa cho bị cáo: Theo kháng nghị về việc xác định lại tư cách tham gia tố tụng của Đinh Hoàng Đ:, Thạch Hoàng T không có ý kiến; những hành vi theo kháng nghị cho rằng bị cáo “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” đều nằm trong mặt khách quan và thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”, nên không thuộc tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị không chấp nhận nội dung kháng nghị này.
* Bị cáo có lời nói sau cùng: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về chủ thể, nội dung, hình thức Quyết định kháng nghị và thời hạn kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là đúng theo quy định tại Điều 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nên kháng nghị hợp lệ và đúng theo luật định nên được chấp nhận, vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm đối với nội dung kháng nghị và có liên quan đến việc kháng nghị.
[2] Người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa, do Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tại phiên tòa sơ thẩm là hoàn toàn tự nguyện, bị cáo không bị ép cung, bức cung hay nhục hình đánh đập; bị cáo tự khai đúng với hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
[4] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thành L phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do đó, có căn cứ xác định: Nguyên vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 29/7/2021, tại chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid 19 theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính Phủ, thuộc địa phận ngã ba Cầu T, ấp A, thị trấn K, bị cáo Nguyễn Thành L có hành vi xô đẩy, dùng lời lẽ thô tục chửi và đe dọa dùng dao tự chế (mã tấu) chém, định dùng dao Thái Lan hành hung để chống lại lực lượng được phân công có nhiệm vụ trực chốt và đang thi hành công vụ theo quy định. Cụ thể là khi anh Đ hỏi lý do ra đường trong thời gian giãn cách xã hội thì V và L trình bày xe bị hư đem xe đi sửa, nên anh Đ giải thích theo quy định chỉ cho một người đi qua chốt để sửa xe, còn lại hai người phải quay về nhưng bị cáo L không đồng ý và có hành vi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 51X2 -1943 chở V và dùng chân đẩy xe môtô biển kiểm soát 52T5 -2239 do D đang ngồi trên xe để đi qua chốt; anh Đ ngăn lại thì bị cáo L bước xuống xe và nói “bữa nay ai ngăn cản không cho qua chốt là tao đâm, tới đâu thì tới”, tiếp theo bị cáo dùng lời lẽ thô tục chửi, xúc phạm và hăm dọa dùng dao chém lực lượng đang làm nhiệm vụ; thấy vậy anh T nói với anh Đ “Anh giải quyết không được thì điện báo Công an thị trấn đến giải quyết”, bị cáo L nghe T nói nên quay sang dùng tay chỉ vào mặt T chửi thề, dọa dùng dao đâm T và đi tới gần T để đánh anh T, anh T lùi lại và anh Đ ngăn cản, bị cáo L thì dùng tay xô đẩy Đắng ra để tiến lại gần anh T; anh Đ ngăn không được nên dùng súng đạn cao su đưa lên bắn chỉ thiên để cảnh cáo nhưng bị cáo L bất chấp, tiếp tục chửi thề và kêu D về lấy cây dao mã tấu tự chế cho L để chém lực lượng thi hành công vụ, anh D không đi; bị cáo L đến xe mô tô, biển kiểm soát số 52T5 -2239 dùng tay mở cốp xe lên lấy cây dao Thái Lan thì bị anh Đ và anh Huỳnh Tấn E can ngăn; khi Công an thị trấn K đến mời bị cáo L cũng không chấp hành và tiếp tục có hành vi chửi lớn tiếng, xúc phạm lực lượng làm nhiệm vụ nên Công an thị trấn phải khống chế mới đưa được bị cáo L về cơ quan Công an thị trấn K làm việc.
[5] Bị cáo Nguyễn Thành L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được dịch bệnh Covid-19 là đại dịch, Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước nói chung, cũng như tỉnh Sóc Trăng đang quyết liệt phòng chống dịch, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội toàn tỉnh Sóc Trăng đang thực hiện theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây viết tắt Chỉ thị 16), người dân chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết. Để thực hiện công tác phòng chống dịch có hiệu quả, ban chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 thị trấn K đã lập các chốt kiểm soát trên địa bàn, phân công lực lượng trực để tuyên truyền, nhắc nhở người dân chấp hành theo Chỉ thị số 16 và thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định. Bị cáo cũng nhận thức được các anh Đ, T, N và L1 là lực lượng trực chốt kiểm soát phòng chống dịch Covid 19 theo Chỉ thị 16 (tại ngã ba Cầu T, thuộc ấp A, thị trấn K) là những người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phân công thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định về phòng chống dịch, nếu người nào có hành vi chống đối nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ, công vụ của họ là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị.
[6] Mặc dù, bị cáo nhận thức được điều này nhưng với bản chất xem thường pháp luật, nên bị cáo đã có hành vi xô đẩy, dùng lời lẽ thô tục chửi, đe dọa chém và hành hung để chống lại anh Đ và anh T là lực lượng được phân công trực chốt nhằm cản trở họ thực hiện nhiệm, công vụ theo quy định. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm hại đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực trật tự quản lý hành chính nhà nước và xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của những người thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo Nguyễn Thành L thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” nên có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[7] Trong xét xử sơ thẩm, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thành L đã thành khẩn khai báo, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, ngoài việc bị cáo có hành vi chống đối, không thực hiện yêu cầu của lực lượng trực chốt, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo cũng đã được anh Đ can ngăn không được và đến mức phải dùng súng bắn chỉ thiên để cảnh cáo nhưng bị cáo bất chấp và tiến tới định đánh anh T, tiếp tục chửi thề và đe dọa lực lượng làm nhiệm vụ, bị cáo còn kêu D về lấy hung khí để chém lực lượng thi hành công vụ, bị cáo tự mình đến cốp xe để lấy dao nhưng được ngăn cản kịp thời, mãi cho đến khi bị khống chế đưa về trụ sở Công an thị trấn K thì sự việc mới được chấm dứt. Xét thấy, hành vi của bị cáo nêu trên thuộc trường hợp “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo là thiếu sót. Do vậy, theo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành L là có căn cứ.
[8] Tuy bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như nêu trên; nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; nên không nhất thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo theo như kháng nghị.
[9] Mặt khác, các anh Đinh Hoàng Đ: , Thạch Hoàng T là người thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao; khi bị cáo chống đối, cản trở việc thực thi nhiệm vụ, công vụ tuy bị cáo có đe dọa đâm, đánh, chửi và xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của các anh, nhưng những hành vi trên của bị cáo là nhằm chống đối, cản trở việc thực thi nhiệm vụ, công vụ, không nhằm vào cá nhân các anh; khách thể bị xâm hại là sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực trật tự quản lý hành chính nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm xác định các anh Đinh Hoàng Đ và Thạch Hoàng T là bị hại là chưa chính xác, mà phải xác định là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai tư cách là vi phạm thủ tục tố tụng, nhưng không ảnh hưởng đến đường lối xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại cho đúng tư cách theo quy định của pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[10] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, một phần nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận kháng nghị và sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Do Viện kiểm sát kháng nghị, nên án phí hình sự phúc thẩm không phải nộp theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 11 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 11 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1/- Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-ST, ngày 03/12/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
2/- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 34/2021/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Sóc Trăng, như sau:
“Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thành L.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
Các phần khác của quyết định Bản án hình sự sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật;
3/- Án phí hình sự phúc thẩm: Không phải nộp.
4/- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - TAND huyện K (02); - VKSND huyện K; - Công an huyện K; - PHSNV - Công an tỉnh Sóc Trăng; - CQTHAHS - Công an tỉnh Sóc Trăng; - PKTNV-THA - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sơ Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hs, THS; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Phạm Hùng Nuôi |