vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị N , xác định Anh Phạm Xuân H , sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 27/02/2017, tại Bệnh viện phụ sản An Đức – tỉn…

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục về hộ tịch cho cháu Nguyễn Xuân P theo quy định của pháp luật. Về án phí: Miễn án phí xin xác nhận cha cho con cho Chị Nguyễn Thị N . Trả lại Chị Nguyễn Thị N số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N xin xác nhận cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị N , xác định Anh Phạm Xuân H , sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 27/02/2017, tại Bệnh viện phụ sản An Đức – tỉn…
  • Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày 06 - 01 - 2022
V/v: Xác định quan hệ cha con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Đức Toàn;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2021 về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N , sinh năm 1982

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đông Hải, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Phạm Xuân H , sinh năm 1982.

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T , sinh năm 1975. Hộ khẩu thường trú: Xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ: Thôn Ngã Hai, xã Khánh Phú, tỉnh Khánh Hòa.

(Chị Ngân, anh Hợp có mặt, anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn đề nghị xác định cha cho con đề ngày 24/9/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Chị Nguyễn Thị N trình bày và có yêu cầu như sau:

Chị và anh Nguyễn Thanh T kết hôn ngày 24/3/2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, đến năm 2018 chị và anh T giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tại bản án số 64/2018/DSST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Thanh T . Do anh chị không có con chung và tài sản chung nên không đặt ra giải quyết về nuôi con chung và không giải quyết về tài sản.

Trên thực tế chị và anh T đã sống ly thân từ lâu nên không có con chung nhưng trong thời gian còn chưa ly hôn với anh T , chị đã có tình cảm với Anh Phạm Xuân H , sinh năm 1982, cư trú tại thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và ngày 27/02/2017 chị sinh con với anh Hợp, đặt tên con là Nguyễn Xuân P. Vì con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với anh T nên khi làm giấy khai sinh cho con, chị đã khai tại phần họ tên cha là Nguyễn Thanh T . Do cả chị và anh T đều xác định cháu Nguyễn Xuân P không phải là con chung của anh chị nên khi giải quyết ly hôn, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Nay, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Phát, chị yêu cầu Tòa án xác định Anh Phạm Xuân H là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P để cháu được nhận cha và cải chính hộ tịch.

Bị đơn là Anh Phạm Xuân H trình bày: Anh và Chị Nguyễn Thị N có tình cảm với nhau từ năm 2016. Ngày 27/02/2017 chị Ngân sinh bé trai và đặt tên là Nguyễn Xuân P, anh xác định cháu P là con chung của anh và Chị Nguyễn Thị N . Nay chị Ngân đề nghị xác định anh là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P, anh nhất trí.

Tại bản án số 64/2018/DSST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình thể hiện lời khai của anh T kết hôn với chị Ngân ngày 24/3/2009. Do mâu thuẫn vợ chồng nên từ ngày 12/8/2009 anh đã bỏ nhà đi sống nơi khác, ly thân với chị Ngân. Anh và chị Ngân không có con chung, không có tài sản chung.

Tòa án đã trưng cầu giám định ADN để xác định quan hệ huyết thống cha mẹ con giữa Anh Phạm Xuân H , Chị Nguyễn Thị N và cháu Nguyễn Xuân P.

Tại Phiếu kết quả phân tích ADN số KQ 2103027 và số KQ 2103024 đều đề ngày 27/11/2021 do Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền thực hiện theo Quyết định trưng cầu giám định số 04/2021/QĐ –TCGĐ ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình thể hiện Chị Nguyễn Thị N và cháu Nguyễn Xuân P có quan hệ huyết thống mẹ - con; Anh Phạm Xuân H và cháu Nguyễn Xuân P có quan hệ huyết thống cha - con.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình p biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng về quyền và nghĩa vụ của mình, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được thông báo nhưng không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Về nội dung: Áp dụng Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác định Anh Phạm Xuân H là cha đẻ cháu Nguyễn Xuân P. Về án phí: áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Ngân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Ngân yêu cầu xác định Anh Phạm Xuân H là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P, căn cứ vào khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là tranh chấp xác định cha cho con. Anh Hợp có nơi cư trú tại thành phố Thái Bình nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình có thẩm quyền giải quyết. Do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án có mặt nguyên đơn, bị đơn, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung: Xét yêu cầu của Chị Nguyễn Thị N về việc xác định Anh Phạm Xuân H là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P thấy: Các tài liệu có trong hồ sơ và qua lời khai của các đương sự đều thể hiện chị Ngân và anh T là vợ chồng từ 24/3/2009 đến 27/11/2018. Thực tế anh T và chị Ngân đã không sống cùng nhau từ tháng 8/2009 đến nay. Ngày 27/02/2017 chị Ngân sinh con là Nguyễn Xuân P, con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Ngân và anh Nguyễn Thanh T . Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình thì cháu Lê Xuân P được xác định là con chung của Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T . Tuy nhiên, cả chị Ngân và anh T đều xác định anh chị không có con chung do vậy tại bản án số 64/2018/DSST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình đã giải quyết cho anh chị ly hôn và không giải quyết về con chung. Lời trình bày của chị Ngân, phù hợp với bản án số 64/2018/DSST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, phù hợp với lời trình bày của Anh Phạm Xuân H và được chứng minh bằng Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 27/11/2021 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền. Do đó yêu cầu của Chị Nguyễn Thị N về việc xác định Anh Phạm Xuân H là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của Chị Nguyễn Thị N .

Về án phí: Chị Ngân có đơn xin miễn án phí do chị yêu cầu xác nhận cha cho con, thuộc trường hợp miễn án phí, nên miễn án phí cho chị.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia Đình;

Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, tiền án phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị N , xác định Anh Phạm Xuân H , sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn Tây Sơn, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình là cha đẻ của cháu Nguyễn Xuân P, sinh ngày 27/02/2017, tại Bệnh viện phụ sản An Đức – tỉnh Thái Bình, đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình số: 179 ngày 15 tháng 9 năm 2017.

Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục về hộ tịch cho cháu Nguyễn Xuân P theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Miễn án phí xin xác nhận cha cho con cho Chị Nguyễn Thị N . Trả lại Chị Nguyễn Thị N số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, biên lai thu số 0000373 ngày 25/10/2021.

3. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N , Anh Phạm Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 06/01/2022. Anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hợp lệ hay niêm yết.

Cỡ chữ