vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn bà Lương Thị X.

Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0000014, ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - X ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn bà Lương Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 01 năm 2022
Về việc: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Hà – Ông Trần Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thái Quang – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái không tham gia phiên tòa.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2021, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên toà số 02/2022/TB-XX ngày 05 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1961; vắng mặt.

Bị đơn: Bà Lương Thị X, sinh năm 1962; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ 10, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông Trần Văn T và bà Lương Thị X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Yên Bái) vào ngày 12 tháng 6 năm 1985 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm không thể sống chung cùng nhau, đã ly thân từ năm 2017 đến nay không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Ông T xác định tình cảm vợ chồng đã hết đề nghị Tòa án giải quyết cho ông T được ly hôn với bà Lương Thị X.

Về con chung: Ông T và bà X có 02 con chung là chị Trần Thị Huyền T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1986 và chị Trần Thị Thu H, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1988. Các con đã thành niên, phát triển bình thường nên ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về chia tài sản: Ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà Lương Thị X vắng mặt, không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn bà Lương Thị X có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố số 10, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Nguyên đơn ông Trần Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lương Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về hôn nhân: Ông Trần Văn T kết hôn với bà Lương Thị X trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Theo ông T trình bày quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm không thể sống chung cùng nhau đã ly thân từ năm 2017 đến nay không quan tâm đến nhau. Tòa án đã triệu tập hòa giải nhiều lần nhưng bà X vắng mặt không lý do, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của ông T, thể hiện bà X không có thiện chí hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà X đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông T là có cơ sở cần chấp nhận.

Về con chung: Ông T và bà X có 02 con chung là chị Trần Thị Huyền T, sinh năm 1986 và chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1988. Chị T, chị H đã thành niên phát triển bình thường. Ông T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5 ] Về án phí và quyền kháng cáo: Ông T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Ông T, bà X có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn bà Lương Thị X.

2. Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0000014, ngày 06 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Văn T và bà Lương Thị X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ