vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ. Ông Nguyễn Thành Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T. Về con chung: Ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Diễm P, sinh ngày 06/06/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/05/2015. Ông Đ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Thành Đ XLH Nguyễn Thị Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L
TỈNH A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ – ST
Ngày: 07 - 01- 2022
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quốc Dũng;

2. Ông Phạm Ngọc Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 421/2021/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2021/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 433/2021/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số 65/19 khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh A.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số 65/19 khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh A.

(Ông Đ có đơn xin vắng mặt, bà T vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn năm 2012, hôn nhân tự nguyện lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn ngày 30/03/2012 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Bà T tự ý sống riêng từ năm 2016. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đ yêu cầu Tòa án cho giải quyết ly hôn với bà T.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Diễm P, sinh ngày 06/06/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/05/2015. Con chung hiện nay đang sống với ông Đ. Sau khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến qua yêu cầu ly hôn của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:

Ông Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt lý do phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Bà T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt lý do phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Bà T không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ và bà T là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Thành Đ đối với bà Nguyễn Thị Thanh T.

Về con chung: Do con chung của ông Đ và bà T là các cháu Nguyễn Thị Diễm P, sinh ngày 06/06/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/05/2015 hiện nay đang sống với ba. Ông Đ có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, bà T không có ý kiến về con chung. Để đảm bảo ổn định về tinh thần, đảm bảo về quyền lợi về mọi mặt cho hai con chung của ông Đ và bà T, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của ông Đ.

Về chi phí cấp dưỡng nuôi con: Do ông Đ không có yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi các con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tranh chấp giữa ông ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết.

Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, ông Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt lý do phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Bà T không có ý kiến trình bày và vắng mặt trong quá trình tố tụng; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ và bà T là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn năm 2012, hôn nhân tự nguyện lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn ngày 30/03/2012 tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh A. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Bà T tự ý sống riêng từ năm 2016. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đ yêu cầu Tòa án cho giải quyết ly hôn với bà T. Phía bị đơn được Tòa án nhiều lần niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bà T. Tuy nhiên, bà T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của ông Đ và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, bà T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc bà không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên ông Đ và tạo thêm thời gian để vợ chồng ông bà có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, ông Đ vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay bà T không đến thăm nom các con chung, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà T dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng. Sau khi nhận được quyết định hoãn phiên tòa, ông Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt lý do phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa ông Đ và bà T không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Đ được ly hôn với bà T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Diễm P, sinh ngày 06/06/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/05/2015. Con chung hiện nay đang sống với ông Đ. Sau khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của ông Đ phù hợp với bản sao giấy khai sinh số 67/2014 ngày 01/3/2014 do UBND phường M, thành phố L cấp và bản sao giấy khai sinh số 135/2015 ngày 12/5/2015 do UBND phường M, thành phố L cấp. Xét thấy, thời gian qua cháu P và cháu Q được ông Đậm trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu cũng có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ba. Để ổn định đời sống cho hai cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi hai con của nguyên đơn.

Về cấp dưỡng nuôi con, đây là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, do ông Đ không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Đ và gia đình phải tạo điều kiện thuận lợi cho bà T được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do bị đơn bà T cũng không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Ông Nguyễn Thành Đ phải nộp án phí Hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Đ. Ông Nguyễn Thành Đ được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Diễm P, sinh ngày 06/06/2011 và Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/05/2015. Ông Đ được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Đ không có yêu cầu. Ông Đ cùng các thành viên trong gia đình của mình phải tạo điều kiện cho bà T được thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung. Việc nuôi con không cố định.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Thành Đ phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông Đ đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000598 ngày 11/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, ông Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ