vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ khoản2 Điều 227; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh X được ly hôn anh Trần Công T. Về con chung: Chị Trần Thị Minh X và anh Trần Công T có hai con chung Trần Thị M, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1995 và Trần Thị K, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2000, các con đã trưởng thành, chị X không yêu cầu Toà án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn, giữa chị Trần Thị Minh X và anh Trần Công T."
  • Tòa quyết gì? Căn cứ khoản2 Điều 227; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-01-2022
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Hoàng Liên;

2. Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Đinh Phú Ngọc- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2021/TLST-HNGĐ ngày 23-11-2021 về việc: “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXX-ST ngày 20-12-2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04-01-2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Minh X; sinh năm 1972;

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Công T, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 11 năm 2021 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Minh X trình bày:

Chị và anh Trần Công T trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 1992 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, anh T mắc vào tệ nạn xã hội chị X đã khuyên bảo nhưng không được, anh T không thay đổi. Chị X và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2007 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị X xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Chị X và anh T có 02 con chung Trần Thị M, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1995 và Trần Thị K, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2000, các cháu đã trưởng thành. Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiều lần báo gọi, gửi thông báo phiên hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án có gửi các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Trần Công T nhưng anh T không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Qua xác minh tại Công an xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái thì hiện nay anh T vẫn đăng ký hộ khẩu tại thôn C, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Hiện nay anh T không cắt tạm trú, tạm vắng hoặc chuyển khẩu đi đâu.

Tại biên bản lấy lời khai bà Đỗ Thị T (Bút lục số 23-24) cho biết: “Con trai tôi là Trần Công T và chị Trần Thị Minh X kết hôn với nhau năm 1992, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn chị X và anh T sinh sống tại thôn C, xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T phải đi tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chị X và anh T sống ly thân từ khi anh T đi tù khoảng năm 2008 đến nay. Chị X xin ly hôn anh T đề nghị Toà án giải quyết theo quy đinh của pháp luật; chị X và anh T có hai con chung, các con đã trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Chị X và anh T có hay không tôi không rõ. Tôi đã nhận Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Toà án thay anh Trần Công T. Tôi đã thông báo cho anh T để anh T về giải quyết việc ly hôn nhưng anh T vẫn không về, anh T đi làm ở Lào Cai, tôi không rõ địa chỉ của cháu”.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Minh X; Xử cho chị Trần Thị Minh X được ly hôn anh Trần Công T; Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Trần Công T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Trần Công T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T trước khi kết hôn có tìm hiểu và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái quá trình bảo quản chị X đã bị thất lạc mất Giấy đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái đã xác nhận chị Trần Thị Minh X và anh Trần Công T năm 1992 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh T là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình chung sống chị X và anh T tính cách không phù hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi từ khi anh T đi tù khoảng năm 2008 đến nay. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã báo gọi anh T nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được. Qua xác minh tại gia đình anh T thì, chị X và anh T đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2008 đến nay, không ai quan tâm đến ai, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên thấy yêu cầu ly hôn của chị X là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Minh X.

[4] Về con chung: Chị X và anh T có 02 con chung Trần Thị M, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1995 và Trần Thị K, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2000, các cháu đã trưởng thành. Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét,.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Trần Thị Minh X là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản2 Điều 227; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Minh X được ly hôn anh Trần Công T.

2. Về con chung: Chị Trần Thị Minh X và anh Trần Công T có hai con chung Trần Thị M, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1995 và Trần Thị K, sinh ngày 20 tháng 8 năm 2000, các con đã trưởng thành, chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Minh X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí chị X đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001325 ngày 23-11-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị Trần Thị Minh X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Minh X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Công T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ