vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tình cảm: Xử cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H.

Về con chung: Xử giao cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019 cho bà Lê Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Lê Thị Thu H không yêu cầu ông Lê Quang H cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn Lê Thị Thu H với Lê Quang H"
  • Tòa quyết gì? Về tình cảm: Xử cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01 /2022/HNGĐ - ST

NHÂN DANH

Ngày 07-01-2022

N

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa bà Lê Thị Thu H với ông Lê Quang H

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Ánh.

2. Ông Trần Thế Nam.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Quảng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Phong.

Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 90/2021/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1997;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Vân Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chổ ở hiện nay: Khu phố 1, phường 3, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

2. Bị đơn: Ông Lê Quang H, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Vân Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

(Cả bà Hiền và ông Hổ đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2021, nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày:

Bà Lê Thị Thu H với ông Lê Quang H yêu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào ngày 17/7/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống và làm việc tại Đà Nẵng một thời gian sau đó vào năm 2020 thì hai vợ chồng về sống với bố mẹ đẻ của ông H tại thôn Vân Hòa, xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H thường xuyên chơi Game, không lo làm ăn, bạo lực gia đình, đánh đập bà H; mặc dù bà H đã nhiều lần tha thứ để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng ông H vẫn không chịu thay đổi nên từ tháng 8/2021 đến nay vợ chồng sống ly thân, bà H về sống với bố mẹ đẻ của bà H tại khu phố 1, phường 3, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Bà H thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ với nhau nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019, hiện đang sinh sống với bà H. Nếu ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản trình bày ý kiến ngày 24/11/2021, bị đơn ông Lê Quang H trình bày:

Ông Lê Quang H với bà Lê Thị Thu H yêu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào ngày 17/7/2018. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn vợ chồng như bà H trình bày là đúng; do ông H thường xuyên chơi Game, không quan tâm đến cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, mâu thuẫn với nhau do đó từ tháng 8/2021 đến nay bà H về sống với bố mẹ đẻ của bà H tại khu phố 1, phường 3, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị. Nay vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm với nhau được nữa nên bà H xin ly hôn thì ông H cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019, hiện cháu A đang sinh sống với bà H. Nếu ly hôn ông H đồng ý giao cháu A cho bà H chăm sóc nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 25/10/2021 Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình số 90/2021/TLST - HNGĐ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa bà Lê Thị Thu H với ông Lê Quang H. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bà Lê Thị Thu H và ông Lê Quang H. Ngày 15/11/2021 bà Lê Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt bà H. Đến ngày 24/11/2021 ông Lê Quang H có bản trình bày ý kiến gửi Tòa án trong đó có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông H. Ngày 07/12/2021 Tòa án lập biên bản về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải. Ngày 20/12/2021, Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử và ấn định thời gian mở phiên tòa vào ngày 07/01/2022. Tại phiên tòa hôm nay, cả bà H và ông H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thu H với ông Lê Quang H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào ngày 17/7/2018. Tuy nhiên, cả bà H và ông H đều thừa nhận quá trình sống chung với nhau vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H thường xuyên chơi Game, không quan tâm đến cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ, mâu thuẫn với nhau và hai vợ chồng sống ly thân với nhau từ tháng 8/2021 đến nay. Tại đơn khởi kiện của bà H yêu cầu được ly hôn với ông H và tại bản trình bày ý kiến của ông H cũng đồng ý ly hôn với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng bà Hvà ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà H và ông Hđồng ý ly hôn nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H, xử cho bà Hược ly hôn với ông Hổ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng bà H và ông H có 01 con chung là cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019, hiện cháu A đang sinh sống với bà H. Nếu ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu A; ông H cũng đồng ý giao cháu A cho bà H chăm sóc nuôi dưỡng. Thấy rằng, hiện tại cháu A đang còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu A hiện đang sinh sống với bà H nên cần giao cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019 cho bà H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà H không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Về tình cảm: Xử cho bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H.

2. Về con chung: Xử giao cháu Lê Dương Tuệ A, sinh ngày 01/3/2019 cho bà Lê Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Lê Thị Thu H không yêu cầu ông Lê Quang H cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; không ai được cản trở trong việc thăm nom con chung. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000008 ngày 20/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Bà Lê Thị Thu H và ông Lê Quang H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉnh Quảng Trị;

- VKSND huyện Triệu Phong;

- Chi cục THADS huyện Triệu Phong;

- UBND xã Triệu Hòa, huyện T.Phong;

- Các đương sự;

- Lưu HS,VT.

Phan Hồng Phước

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Ánh – Trần Thế Nam

Phan Hồng Phước

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ