vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông TBH đối với bà TTTD.

Về hôn nhân: Cho ông TBH ly hôn với bà TTTD. Về con chung: Bà TTTD được quyền nuôi con Trần Bá Phước Toàn, sinh ngày 28/10/2015 và Trần Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 19/10/2017, con hiện đang sống chung với bà Dương. Buộc ông TBH có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hào -Dương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông TBH đối với bà TTTD.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 01 - 2022
V/v tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Trường Thọ

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Bé

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2021/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông TBH, sinh năm 1979

Địa chỉ: 6/28 Nguyễn Thanh Cần, phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà TTTD, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Thạnh Hóa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

(Ông Hào có mặt; bà Dương vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông TBH trình bày yêu cầu khởi kiện: Ông Hào và bà Dương sống chung vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An vào ngày 19/7/2018. Sau khi kết hôn, ông Hào và bà Dương thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng từ năm 2019 phát sinh mâu thuẫn do bà Dương và ông Hào thường xuyên tranh cãi nhau mà nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không phù hợp. Ông Hào và bà Dương không sống chung từ tháng 11 năm 2020 cho đến nay. Trong quá trình sống chung, ông Hào và bà Dương có 02 con chung tên Trần Bá Phước Toàn, sinh ngày 28/10/2015 và Trần Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 19/10/2017, con chung hiện đang sống chung với bà Dương. Nay ông Hào nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông Hào khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Dương; về con chung, ông Hào yêu cầu bà Dương tiếp tục nuôi 02 con, ông Hào cấp dưỡng mỗi con 5.000.000đ/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tuổi; về tài sản chung, nợ chung, ông Hào không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại đơn giải trình ngày 09/12/2021, bị đơn bà TTTD trình bày yêu cầu: Về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và con chung đúng như ông Hào trình bày. Nay, ông Hào yêu cầu ly hôn thì bà Dương không đồng ý vì bà Dương còn thương ông Hào và muốn vợ chồng hàn gắn; về con chung bà Dương yêu cầu được nuôi con Trần Bá Phước Toàn và Trần Ngọc Thiên Kim, yêu cầu ông Hào cấp dưỡng mỗi con 5.000.000đ/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tuổi nhưng cấp dưỡng một lần; về tài sản chung, nợ chung bà Dương không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông TBH và bà TTTD có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 2, thành phố Tân An, tỉnh Long An nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Dương cư trú trên địa phận huyện Thạnh Hóa, ông Hào khởi kiện yêu cầu ly hôn, đây là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt bà TTTD: Bà Dương vắng mặt và có yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Dương.

Về quan hệ hôn nhân: Ông TBH yêu cầu ly hôn với bà TTTD, bà Dương không đồng ý ly hôn với ông Hào do bà Dương còn thương ông Hào và muốn hàn gắn với ông Hào. Ông Hào trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông Hào và bà Dương thường xuyên tranh cãi nhau mà nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không phù hợp. Tại phiên tòa, bà Dương vắng mặt cũng như không đưa ra được biện pháp hàn gắn vợ chồng nên lời trình bày của ông Hào về tình trạng mâu thuẫn giữa ông Hào và bà Dương là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, ông Hào kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà Dương. Qua lời trình bày của các đương sự thể hiện tình trạng mâu thuẫn là trầm trọng, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân chỉ đạt được khi trong cuộc sống chung cả hai cùng quan tâm đến nhau và cả hai đương sự phải còn tình cảm với nhau nhưng ông Hào đã hết tình cảm với bà Dương. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định tình cảm vợ chồng giữa ông Hào và bà Dương không còn, tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hào đối với bà Dương.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con cũng như phương thức cấp dưỡng: Ông Hào và bà Dương thống nhất, bà Dương tiếp tục nuôi 02 con và ông Hào cấp dưỡng mỗi con 5.000.000đ/tháng/con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Bà Dương yêu cầu cấp dưỡng một lần, trong khi ông Hào chỉ đồng ý cấp dưỡng hằng tháng. Nhận thấy, ông Hào và bà Dương chỉ tranh chấp về phương thức cấp dưỡng. Để đảm bảo số tiền xuyên suốt và thường xuyên cho quá trình nuôi con cũng như việc đảm bảo không làm thất thoát tiền cấp dưỡng nên cần chấp nhận phương thức cấp dưỡng hằng tháng là phù hợp với pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông TBH và bà TTTD không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ông TBH phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông TBH đối với bà TTTD.

Về hôn nhân: Cho ông TBH ly hôn với bà TTTD.

Về con chung: Bà TTTD được quyền nuôi con Trần Bá Phước Toàn, sinh ngày 28/10/2015 và Trần Ngọc Thiên Kim, sinh ngày 19/10/2017, con hiện đang sống chung với bà Dương. Buộc ông TBH có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (Năm triệu đồng)/tháng/một người con (Hai người con 10.000.000đ (Mười triệu đồng/tháng)) cho đến khi mỗi người con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này do các đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Ông TBH phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, tất cả sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà ông Hào đã nộp theo biên lai thu số 0010792 ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành án phí, ông Hào còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Vân – Nguyễn Văn Bé

Phùng Trường Thọ

Cỡ chữ