vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Tẩn Tả M được miễn án phí Dân sự sơ thẩm. [3] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tẩn Tar M và Tẩn Liều P"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NP
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 7 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn của nam, nữ chung
sống như vợ chồng mà không đăng ký kết
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vàng Thị Dua.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn và ông Chảo Phù Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022; V/v tranh chấp ly hôn của nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/QĐ-DSST ngày 28/4/2022, giữa:

Nguyên đơn: Tẩn Tả M, Sinh năm: 1976

Địa chỉ: Bản S, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên.

Bị đơn: Tẩn Liều P; Sinh năm: 1979

Địa chỉ: Bản S, xã NH, huyện NP, tỉnh Điện Biên.

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/01/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Tẩn Tả M khai như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013, không đăng ký kết hôn. Khi lấy nhau anh Tẩn Liều P có viết bản cam đoan ngày 14/3/2013 sẽ không nghiện ma túy, không chơi bời ruợu chè và có trách nhiệm với gia đình. Chị M đã tin tưởng và về sống chung với anh P tại bản Sín Chải, xã NH, huyện NP cho đến nay. Sau khi về sống chung với anh P, anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian một, hai năm đầu. Chị M và anh P có một con chung sinh năm 2014, không may cháu bị chết trong vụ hỏa hoạn cháy nhà của gia đình vào tháng 4/2021. Năm 2019 anh P đã bị đưa đi cai nghiện 18 tháng theo quyết định của Tòa án, đến tháng 6/2021 sau khi nhà bị cháy thì anh P được về nhà. Sau đó anh P tiếp tục tái nghiện ma túy, chị M đã khuyên can nhiều nhưng anh P không nghe mà còn chửi mắng và đánh đập chị nhiều lần. Trong gia đình có thứ gì đáng tiền là anh P lại mang đi bán để lấy tiền sử dụng ma túy. Nhiều lần anh P đòi chị đưa tiền không được thì anh P chửi mắng và đánh chị, việc này đã được chính quyền bản đứng ra giải quyết nhiều lần.

Nay về tình cảm vợ chồng với anh P không còn gì, con chung thì đã chết, chị M còn 02 con riêng đã lập gia đình nên chị M đề nghị Tòa án nhân dân huyện NP xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tẩn Liều P.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện NP, bị đơn Tẩn Liều P khai:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tẩn Liều P khai về quá trình chung sống và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị M và anh P thống nhất với lời khai của chị M. Trong quá trình chung sống với nhau giữa anh P và chị M không có mâu thuẫn gì lớn nhưng giữa anh và chị M không có tiếng nói chung.

Nay chị M đề nghị Tòa án nhân dân huyện NP xem xét giải quyết được ly hôn với anh P, nhưng anh P không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản tiếp cận công khai tài liệu chứng cứ ngày 28/01/2022 các đương sự có mặt và không yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị M có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn anh P vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 211, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên không công nhận vợ chồng giữa chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P;

- Về con chung: Không có con chung nên không cần đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không cần đề cập giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị miễn án Dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Tẩn Tả M theo quy định của Chính phủ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tẩn Tả M đối với bị đơn anh Tẩn Liều P. Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có hộ khẩu thường trú tại bản Sín Chải, xã NH, huyện NP nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện NP. Bị đơn Tẩn Liều P đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị M có đơn xin xử vắng mặt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014, nhưng không đăng ký kết hôn. Hai anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc và có 01 con chung, nhưng không may cháu bị chết do hỏa hoạn cháy nhà của gia đình vào tháng 4 năm 2021. Quá trình chung sống, tuy có đầy đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình "Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng…". Do đó, quan hệ hôn nhân giữa hai anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình “ Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P.

Về con chung: Chị M và anh P đều khai không có con chung nên không cần đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không cần đề cập xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Nguyên đơn chị Tẩn Tả M được miễn án phí Dân sự sơ thẩm do là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 211, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tẩn Tả M và anh Tẩn Liều P.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Tẩn Tả M được miễn án phí Dân sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án.

T

Cỡ chữ