vanban.org

Bản án 01/2022/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vi Thế Đ: Anh Vi Thế Đ được ly hôn chị Lò Thị H. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thế Đ và Lò Thị H"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2022/HNGD-ST
Ngày 15 tháng 11 năm 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Quốc Cường

2. Bà: Mai Thị Trường

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Tuấn Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Minh Thu – Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2022/TLST-HN&GĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Vi Thế Đ; tên khác: Không; sinh năm: 1990.

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt có lý do).

2. Bị đơn: chị Lò Thị H; sinh năm: 1985.

Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 02/8/2022; tại bản khai của anh Đ ngày 10/8/2022 nguyên đơn anh Vi Thế Đ trình bày:

* Về hôn nhân: Tôi (Đ) và chị Lò Thị H làm thủ tục đăng ký kết hôn vào ngày 02/7/2020 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Trước khi lấy nhau hai bên tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới, tôi và chị H về sống tại bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, giữa tôi và chị H sống đầm ấm H phúc được 01 năm sau đó phát sinh rất nhiều mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Chị H thích đi chơi, không tu chí làm ăn. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng được họ hàng hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 01/2022 đến nay, hai vợ chồng tôi sống ly thân với nhau. Tôi về sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện M giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Lò Thị H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và chị H không có con chung, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi và chị H không có tài sản chung.

Về tài sản riêng: Tôi và chị H không có, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung phải trả: Tôi và chị H không có, tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngày 19/10/2022 anh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn chị Lò Thị H; Về con chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về anh yêu cầu giải quyết như nội dung đơn khởi kiện.

* Bị đơn: Chị Lò Thị H mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng chị H vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Lò Thị H; xác minh nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn của anh Đ và chị H.

Trong quá trình thụ lý giải quyết anh Đ có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

* Quan điểm của đại diện VKSND huyện M: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Tuyên bố anh Vi Thế Đ được ly hôn chị Lò Thị H.

- Con chung: Anh Đ và chị H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có

- Án phí: Anh Đ phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện M. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 08/8/2022, Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn là chị Lò Thị H, nhưng không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho chị H, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại buổi hòa giải; ngày 09/9/2022 anh Đ có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 31/10/2022, Nguyên đơn là anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là chị Lò Thị H vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 15/11/2022.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là anh Vi Thế Đ có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn là chị Lò Thị H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị H.

Nội dung vụ án:

* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 02/8/2022; tại bản khai của anh Đ ngày 10/8/2022 và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Anh Đ và chị H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/7/2020 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Thời gian đầu anh chị chung sống H phúc, sau đó chị anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Chị H thích đi chơi, không tu chí làm ăn. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng anh chị được họ hàng hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Từ tháng 01/2022 anh Đ và chị H đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh Vi Thế Đ. Tuyên xử cho anh Vi Thế Đ được ly hôn với chị Lò Thị H.

* Về con chung: Anh Vi Thế Đ và chị Lò Thị H không có con chung, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Anh Đ, chị H không có. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Anh Đ phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.

Ý kiến của Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Vi Thế Đ là phù hợp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vi Thế Đ: Anh Vi Thế Đ được ly hôn chị Lò Thị H.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Vi Thế Đ phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch. Anh Đ đã nộp đủ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0009297 ngày 08/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Điện Biên.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ