- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ - ST Ngày: 11 – 01 – 2022 “V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt
Các vị Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Thanh Tú
Ông Nguyễn Quốc Trung
-Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị M - Sinh năm 1986 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm Đ, thị trấn C, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khóm N, thị trấn C, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 09.6.2021 và các lời khai tại Tòa án, chị Võ Thị M (Nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn ngày 10/9/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Cái Nước. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Chị Võ Thị M và anh Nguyễn Văn T có 01 người con chung tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 18/6/2019, hiện nay con đang sống chung với chị M. Sau khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Võ Thị M xác định trong thời gian chung sống không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Võ Thị M xác định trong thời gian chung sống chị và anh T không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Văn T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị M nhưng anh T không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ nhất nhưng anh T vắng mặt, chị M có đơn xin không tiến hành hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa anh, chị được.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1]Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn T tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hôn nhân: Chị M và anh T kết hôn ngày 10/9/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã thị trấn C, huyện Cái Nước nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị M và anh T được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị M vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh T, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, đã có thời gian sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh T không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị M, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị M và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị M, cho chị M được ly hôn với anh T là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung là Nguyễn Gia T, sinh ngày 18/6/2019. Hiện nay con đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu T sinh ngày 18/6/2019 dưới 36 tháng tuổi, đồng thời chị M cũng chứng minh được thu nhập đảm bảo đủ điều kiện để nuôi cháu T. Mặc khác sau khi chị M, anh T ly thân đến nay thì cháu T do chị M trực tiếp nuôi dưỡng sức khỏe đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Gia T, sinh ngày 18/6/2019 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị M xác định trong thời gian chung sống chị và anh T không có tài sản chung, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Võ Thị M xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh T vắng mặt không có ý kiến về con chung, tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị M phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị M.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Giao cho chị Võ Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 18/6/2019. Anh Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị Võ Thị M có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006413 ngày 09 – 6 – 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, sau khi đối trừ chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai chị Võ Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - UBND thị trấn C; - Đương sự; - Lưu VP-HS. | Trần Tuấn Kiệt |