- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Oanh-Tạo"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST Ngày 14-01-2022 V/v: “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm
Ông Trương Hồng Thắm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 08/2021/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2020/QĐXX - HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị A, sinh năm 1983; địa chỉ: khối 4, thị Trấn KĐ, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn 8, xã BT, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 12 năm 2020 và quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn bà Phạm Thị A trình bày:
Bà A và ông Phạm Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Thắng, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào năm 2017. Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng có hạnh phúc, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông B không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đi đánh bài, chơi bi da. Bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, nhiều lúc ông B còn đánh đập bà A. Vợ chồng bà A và ông B đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay không ai quan tâm ai. Do nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng, nên bà A yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập giải quyết được ly hôn với ông B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống giữa bà A và ông B có 03 người con chung là Phạm Duy C, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000; Phạm Thị D, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003 và Phạm Thị Đ, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005. Sau khi ly hôn bà A trình bày có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là Phạm Thị Đ, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Đồi với 02 người con chung là Phạm Duy C, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000 và Phạm Thị D, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con đối với 02 người con chung này.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà A không yêu cầu ông Phạm Văn B cấp dưỡng nuôi người con chung Phạm Thị Đ.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị A trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Văn B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 3 năm 2021, cháu Phạm Thị Đ trình bày:
Cháu Đ là con ruột của bà A và ông B, hiện nay cháu đang sống chung với mẹ cháu là bà A và phụ giúp mẹ làm nông trong gia đình ở tại địa chỉ: khối 4, thị Trấn KĐ, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Cháu có biết việc mẹ cháu làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với bố cháu là ông Phạm Văn B, về nguyên nhân mâu thuẫn thì cháu chỉ biết do ba không chịu làm ăn, chơi bời không phụ giúp mẹ cháu chăm lo kinh tế cho gia đình, ngoài ra cháu không biết nguyên nhân gì khác, khi bố mẹ cháu ly hôn với nhau thì cháu có nguyện vọng được sông cùng với mẹ cháu là bà A vì mẹ cháu thương yêu và chăm sóc cho cháu nhiều hơn. Việc cháu Đ muốn sống chung với mẹ là bà A là do cháu tự nguyện, không ai ép buộc, đe dọa gì cháu, ngoài ra cháu Đ không có trình bày gì khác.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã vi phạm thời hạn xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông Phạm Văn B vẫn vắng mặt không có lý do. Và qua xem xét tại hồ sơ và các tài liệu do bà A cung cấp là phù hợp với quy định pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị A.
Về con chung: giao người con chung là Phạm Thị Đ, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005 cho bà Phạm Thị A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Đồi với 02 người con chung là Phạm Duy C, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000 và Phạm Thị D, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003 đã trên 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“Ly hôn” do nguyên đơn bà Phạm Thị A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Phạm Văn B cư trú tại: Thôn 8, xã BT, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Phạm Văn B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.
Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà Phạm Thị A cho thấy, bà và ông Phạm Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã BT, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào năm 2017. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng ông bà có hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian về sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông B thường xuyên đi đánh bài, chơi bi da, không quan tâm, chăm lo đến kinh tế cho gia đình vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng từ cuối năm 2017, bà A và ông B đã sống ly thân với nhau cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai.
Mặc dù nguyên đơn bà A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại biên bản tự khai và biên bản lấy lời khai, bà A cho rằng bà và ông B đã cố gắng hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay bà A xác định không còn tình cảm với ông B. Hơn nữa, tại phiên tòa không có mặt ông B nhưng trong quá trình thu thập chứng cứ bà A vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu được ly hôn với ông B. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà A và ông B có 03 người con chung là Phạm Duy C, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000; Phạm Thị D, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003 và Phạm Thị Đ, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005. Quá trình thu thập chứng cứ cũng như lời khai của bà A có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Đ cho đến khi đủ 18 tuổi và cháu Đ cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho cháu, nghĩ cần thiết phải giao người con chung là cháu Phạm Thị Đ cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật. Đối với 02 người con chung là Phạm Duy C, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000; Phạm Thị D, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2003 đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị A về việc tranh chấp “Ly hôn”.
2. Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị A được ly hôn với ông Phạm Văn B.
Về con chung: giao người con chung Phạm Thị Đ, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2005 cho bà Phạm Thị A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị A phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007562, Quyển số 0152 ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận - TAND, VKSND tænh BP; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - THADS huyện Bù Gia Mập; - Caùc ñöông söï; - Löu HS. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa Văn Phú Vinh |