- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Anh Tú"
- Tòa quyết gì? 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/01/2022 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Thế Xương
2. Bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo
Yên,tỉnh Lào Cai.
Ngày 07/01/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào
Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2021/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2021và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/12/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đỗ Anh T - sinh năm: 1994 Địa chỉ: Bản 9 VS, xã ThH, huyện BY, tỉnh Lào Cai Có mặt.
Bị đơn: Chị Lã Thị Thanh H - sinh năm: 1997
Địa chỉ: Bản 9 VS, xã ThH, huyện BY, tỉnh Lào Cai Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2021 và các lời khai tiếp theo nguyên
đơn anh Đỗ Anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lã Thị Thanh H kết hôn với nhau trên
cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Hà, huyện Bảo Yên năm 2016. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn phát triển kinh tế và xây dựng hạnh phúc gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không thành, từ năm 2020 đến nay vợ chồng sống ly thân từ đó không quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Lã Thị Thanh H để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là
Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 19/5/2017, hiện cháu mạnh khỏe và phát triển bình thường và do anh đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Bảo và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ, nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ các
tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng bị đơn vắng mặt nên không thống nhất được về việc giải quyết vụ án, tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên ý kiến của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Anh Đỗ Anh T làm đơn đề nghị
Tòa án giải quyết ly hôn chị Lã Thị Thanh H và giải quyết trách nhiệm nuôi con chung; chị H cư trú tại huyện Bảo Yên, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không hợp tác với Tòa án, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa vì thế Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Anh T và chị Lã Thị Thanh H kết hôn
với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai do đó đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Sau kết hôn vợ chống sống không hạnh phúc, thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau và sống ly thân từ năm 2020 từ đó không ai quan tâm đến nhau. Người thân trong gia đình cũng xác nhận tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị H như lời khai của anh T. Xét thấy mâu thẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần cho anh Đỗ Anh T được ly hôn chị Lã Thị Thanh H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Gia Bảo, sinh ngày
19/5/2017. Xét thấy từ khi ly thân chị H không quan tâm đến cháu Bảo, quá trình giải quyết vụ án chị H không tuân thủ quy định của pháp luật nên không có lời khai để thể hiện nguyện vọng của mình về việc nuôi con sau ly hôn. Mặt khác cháu Bảo đang do anh T trực tiếp nôi dưỡng; anh T có mức thu nhập trung bình 8.000.000đ/tháng. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Bảo cần giao cho anh T trực tiếp nuôi sau ly hôn và không buộc chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung phù hợp.
. Về án phí: Anh Đỗ Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều
83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Anh Đỗ Anh T được ly hôn chị Lã Thị
Thanh H.
2.Về con chung: Giao cháu Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 19/5/2017 cho anh Đỗ
Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Bảo đủ 18 tuổi, chị Lã Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Đỗ Anh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003373 ngày 21/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (1); - VKSND tỉnh+ huyện(2); - THADS huyện (1); - UBND xã Thượng Hà (01); - Các đương sự (2); - Lưu HS; VP. | T/M HỘI ĐỒNGXÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Tiến |