vanban.org

Bản án 01/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Long N, sinh ngày 16-8-2009 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh Đ chưa có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi anh có yêu cầu. K… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đ và chị M ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST
Ngày 11 - 01 -2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thanh Giản

Ông Ngô Văn Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 101/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2021 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 409/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ; nơi cư trú: Tổ 2, phường Hòa Nghĩa, quận D, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M; ĐKHKTT và trú tại: Tổ 2, phường Hòa Nghĩa, quận D, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Nghĩa, huyện Kiến Thụy (nay là phường Hòa Nghĩa, quận D), thành phố H. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh và chị M bất đồng trong quan điểm sống. Hai bên thường xuyên xảy ra tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Gia đình hai bên đã hòa giải nhưng không có kết quả; hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Nay, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị M.

Về con chung: Anh và chị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 21-8-2003 và Nguyễn Long N, sinh ngày 16-8-2009. Khi ly hôn, cháu T đã đủ 18 tuổi nên anh không yêu cầu giải quyết và anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận với nhau.

Về tài sản chung: Anh và chị M tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn và con chung như anh Đ trình bày. Do hiện tại do chị có công việc ở Bắc Giang và vì dịch bệnh Covid nên chị không về giải quyết được. Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và giải quyết vắng mặt chị. Chị có quan điểm đồng ý ly hôn với anh Đ, đồng ý để anh Đ nuôi cháu N, về tài sản chung chị và anh Đ sẽ tự giải quyết.

Tòa án đã tiến hành xác M về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi anh Đ và chị M sinh sống thể hiện vợ chồng có mâu thuẫn và hiện tại hai bên đã ly thân.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị M vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tòa án nhân dân quận D đã đưa vụ án ra xét xử, trước ngày mở phiên tòa cả anh Đ và chị M đều có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho anh Đ được ly hôn chị M. Về con chung: Chấp nhận đề nghị của anh Đ, giao con chung Nguyễn Long N cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung anh Đ, chị M không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Nghĩa, huyện Kiến Thụy (nay là phường Hòa Nghĩa, quận D), thành phố H; theo quy định tại Điều 9, Điều 11, Điều 103 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết việc ly hôn, chị Nguyễn Thị M hiện đang cư trú tại phường Hòa Nghĩa, quận D, thành phố H, nên theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố H.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Đ và chị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ các điều 227, điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị M.

- Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị M xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật hôn nhân và gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân quan điểm sống không còn phù hợp và hai vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình xác M thu thập chứng cứ qua lời khai của chính quyền địa phương xác định: anh Đ và chị M xảy ra mâu thuẫn, hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện tại, anh Đ và chị M đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị M do dịch bệnh Covid 19 nên vắng mặt và đề nghị Tòa án không hòa giải và giải quyết vắng mặt chị nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Căn cứ vào quy định của pháp luật và thực tế, đủ cơ sở xác định hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Đ về việc xin ly hôn chị M là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

- Về con chung:

Anh Đ và chị M có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 21-8-2003 và Nguyễn Long N, sinh ngày 16-8-2009. Cháu T đã đủ 18 tuổi; đối với cháu N, cả anh Đ và chị M đều thống nhất giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Đ, chị M đều thống nhất để anh Đ nuôi con, cháu N cũng có nguyện vọng ở với anh Đ; đề nghị của anh Đ, chị M và cháu N là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh Đ chưa có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi anh có yêu cầu.

- Về tài sản chung:

Anh Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Anh Đ là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Anh Đ và chị M được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, điều 35, điều 39, điều 147, điều 207, điều 227, điều 228, điều 238 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn Đ trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Long N, sinh ngày 16-8-2009 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh Đ chưa có yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi anh có yêu cầu.

Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Tạm hoãn việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng cho đến khi anh Đ và chị M có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0003511 ngày 26-10-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố H. Anh Đ đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị M vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ