- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân Lương Thị S - Hoàng Văn U"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị S, cho chị Lương Thị Sláy được ly hôn với anh Hoàng Văn U.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ - ST Ngày 10 - 3- 2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Anh
Bà Chu Thị Hậu
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn: Bà Phạm Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 50/2021/TLST- HNGĐ ngày 02/12/2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26/01/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 17/02/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị S, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn U, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2021, nộp tại Tòa án ngày 30/11/2021, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 01/12/2021, bản tự khai ngày 27/12/2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị S trình bày:
Chị Lương Thị S và anh Hoàng Văn U lấy nhau do hai bên gia đình sắp đặt, không được tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ngày 11/6/2007. Sau khi kết hôn, thỉnh thoảng chị Lương Thị S mới về nhà chồng. Đến năm 2009, anh Hoàng Văn U bỏ nhà đi không liên lạc với gia đình. Năm 2016, chị Lương Thị S đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tuyên bố anh Hoàng Văn U mất tích và ngày 14/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh lạng Sơn đã Quyết định số 02/2016/QĐST-DS tuyên bố anh Hoàng Văn U mất tích. Nay, chị Lương Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn U.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay chị Lương Thị S xác định từ ngày có quyết định tuyên bố mất tích, gia đình vẫn không có tin tức của anh Hoàng Văn U nên chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Kể từ khi thụ lý vụ án đến khi tranh luận tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định về việc viết bản tự khai, tham gia phiên tòa và cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định tại điều 70, 71 của bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn U vi phạm về quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chị Lương Thị S và anh Hoàng Văn U lấy nhau có đăng ký kết hôn từ năm 2007, từ năm 2014 chị Lương Thị S đã không còn sinh sống với anh U vì anh U bỏ nhà đi, không có mặt tại địa phương. Ngày 14/4/2016, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã Quyết định số 02/2016/QĐST-DS tuyên bố anh Hoàng Văn U mất tích. Chị S và anh U không có con chung, không đăng ký nuôi con nuôi. Hai anh chị không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết tài sản chung. Do vậy, căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 2, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị S, cho chị Lương Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn U; về con chung và nợ chung: Không có; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lương Thị S có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giải quyết việc ly hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 02/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã ra Thông báo thụ lý vụ án số 50/TB-TLVA. Do anh Hoàng Văn U mất tích, để đảm bảo thủ tục tố tụng, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết: Giấy triệu tập (02 lần), thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị S và anh Hoàng Văn U lấy nhau có đăng ký kết hôn nên anh chị là vợ chồng hợp pháp. Anh Hoàng Văn U đã bỏ đi biệt tích và đã có quyết định của Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn U mất tích. Do vậy, Tòa án giải quyết cho chị Lương Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn U theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lương Thị S và anh Hoàng Văn U không có con chung; không có con nuôi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Chị Lương Thị S xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lương Thị S là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị S, cho chị Lương Thị Sláy được ly hôn với anh Hoàng Văn U.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Lương Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng). Xác nhận chị Lương Thị S đã nộp đủ 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0001374, ngày 01/12/2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (phòng KTNV&THA); - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Mỹ Hạnh |