- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị H. Cho chị Lê Thị H ly hôn với anh Ngô Vũ L.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-01-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thì Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Sơn Tùng.
2. Ông Bùi Tấn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2021/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số 7/8A, đường C, phường D, thành phố TĐ, Thành Phố Hồ Chí Minh; Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Ngô Vũ L, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, chị Lê Thị H trình ày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh L cưới nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã B, hôn nhân do tự tìm hiểu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ất đồng quan điểm, không cùng sở thích, thường xuyên cải nhau. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hai ên gia đình có gặp nhau để hàn gắn tình cảm cho anh chị nhưng không thành. Anh chị cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được, vợ chồng không ai quan tâm ai, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay tình cảm không còn, chị H yêu cầu ly hôn với anh L.
- Về việc nuôi con: Có một con chung tên Ngô Trọng P, sinh ngày 21/11/2019, hiện đang sống chung với chị H, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát iểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung vụ án, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H với anh Ngô Vũ L. Về việc nuôi con: Giao cháu Ngô Trọng P, sinh ngày 21/11/2019 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị H tự nguyện không yêu cầu. Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Bị đơn anh Ngô Vũ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện ất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ị đơn theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
Về nội dung: Xét về quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Ngô Vũ L là hợp pháp, vì có đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân xã B, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H là có căn cứ, vì: Chị H, anh L phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, do ất đồng quan điểm thường xuyên cải nhau và đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông áo thụ lý, thông áo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng không đến và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị H, không thể hiện thiện chí muốn hàn gắn tình cảm. Gia đình người lớn hai ên có gặp nhau để hàn gắn cho anh chị, anh chị cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được. Trong hôn nhân vợ chồng cần phải thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hiện nay, chị H, anh L đã không còn liên hệ gì với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng, cho thấy tình cảm của của anh chị đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H với anh Ngô Vũ L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc nuôi con: Có một con chung tên Ngô Trọng P, sinh ngày 21/11/2019, hiện đang sống chung với chị H. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Linh cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị H, anh L ly thân đến nay, cháu P sống chung với chị H, được chăm sóc đầy đủ, cháu P dưới 3 tu i, cần sự chăm sóc chu đáo của người m trong việc ăn uống, sinh hoạt. Về điều kiện nuôi con, chị Hạnh hiện là công nhân thu nhập hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng – 10.000.000 đồng, đủ để đảm ảo đời sống của chị và cháu P. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng để đảm ảo cháu P được chăm sóc toàn diện, quyền lợi mọi mặt cho cháu và không làm thay đ i môi trường sống, không làm ảnh hưởng đến tâm lý cháu, là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H tự nguyện không yêu cầu.
Về chia tài sản chung: Chị H trình ày vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh L chưa có yêu cầu về tài sản, Hội đồng xét xử chưa xem xét.
Về nợ chung: Chị H trình ày vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh L chưa có ý kiến về nợ chung, Hội đồng xét xử chưa xem xét.
Xét, ý kiến phát iểu của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, uộc nguyên đơn Lê Thị H chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0013121 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị H. Cho chị Lê Thị H ly hôn với anh Ngô Vũ L.
2. Về việc nuôi con: Giao cháu Ngô Trọng P, sinh ngày 21/11/2019 cho chị Lê Thị H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H tự nguyện không yêu cầu.
4. Về nghĩa vụ thăm nom con: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, m không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Lê Thị H chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0013121 ngày 17/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05 tháng 01 năm 2021). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thì Trang |