vanban.org

Bản án 01/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải trả cho bà Đoàn Thị M số tiền hụi còn nợ là 20.

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án một khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về Hợp đồng dân sự góp hụi giữa bà Đoàn Thị M và chị Nguyễn Thị Mỹ X"
  • Tòa quyết gì? Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải trả cho bà Đoàn Thị M số tiền hụi còn nợ là 20.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DS-ST
Ngày: 27-01-2022
“V/v Tranh chấp hợp đồng
góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Mộng Lành

2. Ông Lê Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2021 về việc tranh chấp về Hợp đồng dân sự góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2021/QĐST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1962 (có mặt);

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1979 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp YQ, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 03/10/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị M trình bày và yêu cầu như sau:

Bà có tham gia góp hụi chị Nguyễn Thị Mỹ X làm chủ, dây hụi mở ngày 15/3/2015 âm lịch, loại hụi 2.000.000 đồng, gồm có 29 phần, bà tham gia góp 02 phần, góp được 13 lần hụi sống thì chị Nguyễn Thị Mỹ X tuyên bố bể hụi, không góp nữa nợ bà số tiền là 52.000.000 đồng (2.000.000 đồng x 13 lần x 02 phần) không trả. Vào năm 2016, bà yêu cầu xã NY giải quyết thì chị Nguyễn Thị Mỹ X thỏa thuận trả cho bà số tiền vốn là 30.000.000 đồng, hẹn 03 tháng trả 01 lần 10.000.000 đồng, trả cho đến khi hết số tiền còn nợ bà nói trên nhưng đến nay chị Nguyễn Thị Mỹ X không trả cho bà đồng nào. Nay bà yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả cho bà tiền hụi vốn còn nợ là 30.000.000 đồng, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

* Tại biên bản xác minh ngày 18/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang như sau:

Chị Nguyễn Thị Mỹ X cư trú tại ấp YQ, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang hiện nay không có mặt ở nhà, ở địa phương, trước khi đi không cung cấp địa chỉ mới ở đâu và làm gì.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Mỹ X biết để chị có ý kiến về việc bà Đoàn Thị M yêu cầu chị trả số tiền hụi còn nợ nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ X không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình nên Toà án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

* Tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng minh nhân dân Đoàn Thị M; Biên bản V/v giải quyết tranh chấp tài sản (tiền hụi) ngày 02/12/2016 của xã NY; Đơn xin xác nhận tình trạng cư trú của người bị kiện ngày 10/6/2021; Biên bản xác minh ngày 18/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

* Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Đoàn Thị M yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả cho bà tiền hụi vốn còn nợ là 20.000.000 đồng, bà rút lại yêu cầu khởi kiện 10.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Mỹ X đã trả cho bà, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện các thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, xác định mối quan hệ pháp luật, đưa tư cách đương sự tham gia tố tụng, về thu tập tài liệu, chứng cứ chứng minh, tống đạt các văn bản tố tụng và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát đúng trình tự thủ tục và thời gian quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 48, Điều 51, Điều 68, các Điều 208, 209, 210, 211, 238, 239 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Xét khởi kiện của bà Đoàn Thị M yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả cho bà số tiền hụi còn nợ 20.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận phù hợp quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ phần bà Đoàn Thị M rút lại yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Đoàn Thị M khởi kiện yêu cầu bị đơn chị Nguyễn Thị Mỹ X trả tiền hụi còn nợ. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại: ấp YQ, xã NY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang cho nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị Mỹ X biết và ấn định thời gian để chị có ý kiến về việc bà Đoàn Thị M khởi kiện đối với chị trả tiền hụi nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ X không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ X vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Như vậy, thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho chị Nguyễn Thị Mỹ X nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ X vẫn cố tình vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đồng thời, tại phiên toà lần thứ hai bà Đoàn Thị M không yêu cầu hoãn phiên toà. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị Mỹ X theo quy định tại khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét về hợp đồng góp hụi giữa bà Đoàn Thị M và chị Nguyễn Thị Mỹ X xác lập hợp đồng bằng lời nói, hụi có lãi và có hoa hồng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự và Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 10 của Nghị định số: 144/2006/NĐ- CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 và và Điều 27 của Nghị định số: 19/2019/ NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Xét khởi kiện của bà Đoàn Thị M yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả số tiền hụi còn nợ là 20.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị Mỹ X không ý kiến gì đối với yêu cầu của bà M. Hội đồng xét xử thấy rằng, ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Đoàn Thị M phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể tại Biên bản về việc giải quyết tranh chấp tài sản (tiền hụi) ngày 02/12/2016 của xã NY thì chị Nguyễn Thị Mỹ X thừa nhận còn nợ bà Đoàn Thị M và hẹn trả cho bà Đoàn Thị M 03 tháng trả 01 lần, trả 03 lần đủ số tiền còn nợ là 30.000.000 đồng, sau đó chị Nguyễn Thị Mỹ X chỉ trả cho bà Đoàn Thị M 10.000.000 đồng đến nay không trả nữa, còn nợ bà Đoàn Thị M 20.000.000 đồng, bà Đoàn Thị M khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả số tiền nói trên là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, từ khi thụ lý vụ án giải quyết cho đến nay chị Nguyễn Thị Mỹ X không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị M là có thật và thuộc trường hợp chị Nguyễn Thị Mỹ X thừa nhận hoặc không phản đối yêu cầu của bà Đoàn Thị M đưa ra theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa bà Đoàn Thị M yêu cầu chị Nguyễn Thị Mỹ X trả cho bà tiền hụi vốn còn nợ là 20.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, yêu cầu của bà Đoàn Thị M, buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải có nghĩa vụ trả cho bà Đoàn Thị M số tiền hụi còn nợ là 20.000.000 đồng theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 29 của Nghị định số: 144/2006/NĐ- CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 khoản 2 Điều 24 Nghị định số: 19/2019/ NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Bà Đoàn Thị M rút lại yêu cầu khởi kiện 10.000.000 đồng do chị Nguyễn Thị Mỹ X đã trả nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần rút yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 207, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 227, điểm a khoản 1 Điều 238, Điều 241, khoản 2 Điều 244, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 24, Điều 27 của Nghị định số: 19/2019/ NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải trả cho bà Đoàn Thị M số tiền hụi còn nợ là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án một khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Đình chỉ xét xử phần bà Đoàn Thị M rút lại yêu cầu khởi kiện đối với chị Nguyễn Thị Mỹ X số tiền hụi 10.000.000 đồng.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng (20.000.000 đồng x 5%).

Bà Đoàn Thị M không phải chị án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho bà Đoàn Thị M tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007352 ngày 15/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/01/2022. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ