vanban.org

Bản án 01/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng gia công

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Kiều Vũ Lam. Buộc ông Phạm Ngọc Tuấn phải trả cho ông Kiều Vũ Lam số tiền đã thi công giá trị thành tiền là 72.199.000 đồng và số tiền vay 16.000.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là 88.199.000 đồng (tám mươi tám triệu, một trăm chín mươi chín ngàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng gia công — án dân sự — "Kiều Vũ L và Phạm Ngoc T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DS-ST
Ngày: 19 - 01 - 2022
V/v: Tranh chấp “Hợp đồng thi công
và Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải

2. Ông Ngô Lê Tuấn Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng thi công và Hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 109/2021/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Kiều Vũ L, sinh năm 1987; địa chỉ: số 137C/3, khu vực 5, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Có mặt.

* Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T, sinh năm: 1978; địa chỉ: số 115, tổ 2B, ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Kiều Vũ Lam trình bày:

Từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 03 năm 2020 ông Phạm Ngọc Tuấn có nhận hợp đồng thi công các hạn mục như lắp đặt hàn khung sắt và ốp alu cho các đơn vị rồi giao lại cho ông Kiều Vũ Lam thực hiện. Ông Tuấn bao vật tư, ông Lam là người hoàn thiện, cụ thể như sau:

Khoảng tháng 12 năm 2019 ông Tuấn nhận thi công lắp đặt và ốp alu hoàn thiện thang máy tại Bệnh viện đa khoa TW Cần Thơ sau đó kêu ông Lam

- 1 -

thi công với giá 230.000 đồng/m2 với diện tích 225m2, số tiền 58.650.000 đồng và phát sinh thêm 1.000.000 đồng tiền lợp máy tol.

Khoảng tháng 12 năm 2019 ông Tuấn nhận hàn khung sắt cho Ngân hàng Agribank Cờ Đỏ sau đó kêu ông Lam thực hiện với số tiền 2.000.000 đồng.

Ngày 04/3/2020 ông Tuấn nhận hàn khung sắt và ốp alu cho Ngân hàng Agribank Phong Điền sau đó kêu ông Lam thi công với số tiền 10.549.000 đồng.

Ngoài ra ông Tuấn còn nhờ ông Lam vay dùm số tiền 16.000.000 đồng vào ngày 27/3/2020 nhưng đến nay chưa trả.

Các công trình trên ông Lam đã thực hiện xong và đã bàn giao, ông Tuấn đã nhận tiền của các đơn vị thuê thi công nhưng ông Tuấn không trả tiền cho ông Lam. Nay ông Lam yêu cầu ông Tuấn trả cho ông Lam các khoản tiền còn nợ tổng cộng là 88.199.000 đồng, ông Lam không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

Bị đơn Phạm Ngọc Tuấn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không cung cấp lời khai chứng cứ về việc khởi kiện của ông Kiều Vũ Lam. Toà án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự nhưng ông Tuấn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ không thể tiến hành hòa giải được nên quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Qua kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: ông Kiều Vũ Lam khởi kiện yêu cầu ông Phạm Ngọc Tuấn trả các khoản tiền mà ông Tuấn đã nhận thi công của các đơn vị rồi giao lại cho ông Lam thực hiện xong nhưng ông Tuấn không thanh toán tiền cho ông Lam và khoản tiền ông Lam vay dùm cho ông Tuấn chưa trả. Ông Tuấn cư trú tại ấp Mỹ Phước, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định lại vụ án có quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng thi công” và “Hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Về nội dung: Ông Lam cung cấp cho Tòa các biên nhận tiền các công trình mà ông Lam đã thi công do ông Tuấn nhận rồi giao lại nhưng không thanh toán tiền cho ông Lam, cụ thể như sau: biên nhận ghi “Công trình bệnh viện” 225m2 x giá 230.000 đồng/m2, số tiền là 59.650.000 đồng; biên nhận “Công trình Cờ Đỏ” 06 khung sắt với giá 2.000.000 đồng; biên nhận “Công trình Phong

- 2 -

Điền” với 03 khoản: (1) 02 cột cao 3.2m2 x 2.44m2 x 02 (cây cột) = 15.6m2, máy vòm ngang 7.6m2 x 3.6m2 = 27.5m2, tổng là 43.1m2 với giá 140.000 đồng/m2 = 6.034.000 đồng; (2) phần cong và trên: cao 0.7 phân x 7.6m2 = 5.32m2; hai bên hong: cao 1.1m2 x 3.6m2 x 02 (bên) = 7.92m2, tổng là 13.24m2 với giá là 190.000 đồng/m2 = 2.515.000 đồng; (3) tháo 04 tấm alu và lấp lại 2.000.000 đồng. Cộng (1) + (2) + (3) = 10.549.000 đồng. Tổng cộng các khoản ông Lam đã thi công giá trị thành tiền là 72.199.000 đồng.

Ông Lam còn mượn dùm cho ông Tuấn số tiền 16.000.000 đồng nhưng chưa trả. Nay ông Lam yêu cầu ông Tuấn trả cho ông Lam tổng công các khoản là 88.199.000 đồng, ông Lam không yêu cầu tính lãi với các khoản tiền này.

Do ông Tuấn là bị đơn nhiều lần vắng mặt, không đến Tòa án tham dự hòa giải và phiên tòa, cũng không gởi ý kiến bằng văn bản nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai và chứng cứ do nguyên đơn ông Lam xuất trình để giải quyết vụ án. Xét thấy ông Lam cung cấp các biên nhận nợ do ông Tuấn viết và ký tên vào ngày 27/3/2020 và ngày 23/7/2020 thừa nhận có nợ ông Lam hai khoản là tiền thi công các công trình và tiền vay với số tiền như trên nên yêu cầu của ông Lam là có cơ sở chấp nhận.

Về lãi suất: do nguyên đơn không yêu cầu lấy lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên buộc bị đơn phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm trên tổng giá trị tài sản phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 117, 119, 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự;

Khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 147, 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Kiều Vũ Lam.

Buộc ông Phạm Ngọc Tuấn phải trả cho ông Kiều Vũ Lam số tiền đã thi công giá trị thành tiền là 72.199.000 đồng và số tiền vay 16.000.000 đồng. Tổng cộng hai khoản là 88.199.000 đồng (tám mươi tám triệu, một trăm chín mươi chín ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- 3 -

Về án phí: Buộc ông Phạm Ngọc Tuấn phải nộp 4.409.950 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lam được nhận lại 2.200.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 018097 ngày 04/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ