vanban.org

Bản án 01/2022/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với ông Nguyễn Văn D. Buộc ông Nguyễn Văn D phải bồi thường cho anh Trần Văn H số tiền là 8.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điề…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Trần Văn H và Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với ông Nguyễn Văn D. Buộc ông Nguyễn Văn D phải bồi thường cho anh Trần Văn H số tiền là 8.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN CHẤN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2022/DS - ST
Ngày 17/3/2022
V/v: Yêu cầu bồi thường thiệt hại
do sức khỏe bị xâm phạm.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hoa Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Mạnh.

2. Ông Hoàng Đình Mùi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2021/TLST - DS, ngày 08/11/2021 về Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2022/QĐXX ST- DS ngày 02 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn H.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà PH1 Thị N.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Bà N có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Mai Ngọc T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

+ Anh Đỗ Tùng D, sinh năm 1999. Địa chỉ: Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn anh Trần Văn H trình bày: Vào hồi 15 giờ ngày 18/6/2020 anh cùng bố mẹ là bà PH1 Thị N và ông Trần Văn H1 đi gieo mạ để chuẩn bị vụ lúa mới tại ruộng của gia đình (ruộng của gia đình anh giáp với ruộng của gia đình ông D, cùng chung bờ ruộng) ở Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Khi ra đến ruộng thấy đất đá ở bờ ruộng chung với gia đình ông D bị sạt lở thì ông H1 đã nhặt lên bờ mà trước đó đã bị ai đó ném hết xuống ruộng, gây khó khăn cho việc gieo mạ. Lúc đó cả gia đình anh nghĩ ngay đến ông D chính là người ném xuống vì nhiều lần ông D cũng làm như vậy và ông D đã thừa nhận sau đó. Khoảng 40 phút sau thì anh nhìn thấy ông D đi đâu về đứng trên bờ ruộng gần chỗ anh đang gieo mạ. Thấy vậy, ông H1 đi lên bờ tiến lại phía ông D, vừa đi ông H1 vừa nói "sao ném đất đá xuống ruộng nhà tao, tao đã nhặt lên bờ rồi cơ mà, tao đã mời công an đến giải quyết rồi", ông D trả lời "đất đá ở đâu thì tao vứt xuống đấy". Sau đó ông D lên xe máy định đi về thì ông H1 nói "không được về, tao gọi công an rồi mày ở lại giải quyết đã" dẫn đến cãi cọ, xô xát, anh không thấy ông H1 có đánh ông D hay không nhưng thấy ông D bị ngã lùi ra sau còn ông H1 bị một vết rách xước ở lòng bàn tay. Ông D và ông H1 đi đến chỗ sạt lở và tiếp tục cãi nhau, một lúc sau thấy vợ, con và em trai ông D lần lượt là bà T, anh Nam, ông S đến, bà T chửi gia đình anh, ông S lao vào định cầm cái cuốc đánh ông H1 nhưng bị bà N giật lại nên ông S sử dụng mũ bảo hiểm đang đội trên đầu đánh vào đầu ông H1, anh Nam cũng lao vào cùng ông S đánh ông H1. Cùng lúc này ông D cầm cái liêm giơ lên lao về phía ông H1 nên anh chạy vào ôm ông D đẩy ra thì bị cái liềm của ông D đang cầm cứa vào tay, chảy nhiều máu, sau đó anh được mọi người đưa đi Bệnh viện đa khoa khu vực (ĐKKV) Nghĩa Lộ chữa trị. Do mâu thuẫn trong lúc làm ruộng ông D đã gây thương tích cho anh dẫn tới anh phải đi viện làm tổn hại tới tiền bạc và sức khỏe. Anh yêu cầu ông D phải bồi thường các khoản tiền gồm: Tiền điều trị tại bệnh viện là 10.000.000 đồng, tiền đi lại 400.000 đồng, tiền thiệt hại do nghỉ việc là 200.000 đồng/ngày x 7 ngày= 1.400.000 đồng, tiền 2 người chăm sóc nghỉ việc là mẹ và vợ là 200.000 đồng/ngày x 7 ngày x 2 người = 2.800.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 20.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền yêu cầu ông D bồi thường là 34.600.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án, biên bản hòa giải người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà PH1Thị N trình bày: Mâu thuẫn giữa gia đình bà và gia đình ông D đã xảy ra nhiều lần do ông D ném đá xuống ruộng nhà bà. Ngày 18/6/2020 bà N, ông H1 và anh H có đi làm ruộng thì thấy đá giữa ruộng, do trước đây đã nhiều lần như vậy nên gia đình xác định là ông D là người ném đá xuống, vì vậy khi thấy anh D đi cắt cỏ về thì bà có gọi ông D xuống nhặt đá và yêu cầu ông D ở lại nhưng ông D không ở, thấy vậy ông H1 đến vị trí xe máy của ông D rút chìa khóa đang cắm ở cổ xe thì ông D dùng liềm bổ tay ông H1, ông H1 cầm chìa khóa xe đi xuống dưới ruộng để chỉ cho ông D xem số đá đang nằm dưới ruộng. Sau khi làm ông H1 bị thương thì ông D bỏ chạy xuống ruộng nhà bà để gọi gia đình ông D ra hành hung gia đình bà, sau đó vợ ông D, anh S, anh Nam đến. Lúc này anh S lao vào đánh ông H1 đồng thời ông D cũng lao vào, thấy vậy anh H ôm cản ông D lại, trong lúc vật lộn với anh H ông D có dùng liềm cắt vào tay anh H, sau khi thấy anh H chảy máu thì hô hoán mọi người không đánh nhau nữa và đưa anh H đi cấp cứu. Quá trình xảy ra sự việc có anh D là công an viên, anh T là người cùng thôn chứng kiến. Anh H bị tổn hại 2% sức khỏe nên có yêu cầu bồi thường thiệt hại với ông D các khoản cụ thể gồm:

1. Tiền điều trị 07 ngày ở viện (từ 18/6/2020 đến 25/6/2020) là 8.182.210 đồng trong đó BHYT thanh toán 6.545.768 đồng còn lại người bệnh trả 1.636.442 đồng.

2. Tiền thuốc theo đơn thuốc ngày 18/6/2020 là 1.220.000 đồng có hóa đơn; còn số tiền 597.800 đồng là tiền mua thuốc ở ngoài nhưng không cung cấp được hóa đơn do không lấy hóa đơn nhà thuốc.

3. Tiền đi lại cả đi lẫn về là 400.000 đồng trong đó: 200.000 đồng tiền thuê taxi đưa anh H đi cấp cứu; 200.000 đồng đi xe ôm 02 lần (lần 1 bà N đi từ Bệnh viện Nghĩa Lộ về tổ dân phố T, thị trấn S, Văn Chấn bằng 100.000 đồng; lần 2 anh H thuê xe ôm để ra viện về nhà). Khoản tiền này không có giấy tờ xác nhận của xe ôm và xe taxi.

4. Thu nhập thực tế bị mất của anh H trong thời gian 07 ngày nằm viện bằng 200.000 đồng/01 ngày x 07 ngày = 1.400.000 đồng.

5. Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (vợ) là 200.000 đồng/01 ngày x 07 ngày = 1.400.000 đồng.

Không yêu cầu thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc là bà N nữa.

6. Tiền tổn thất tinh thần 20.000.000 đồng.

Tổng số tiền yêu cầu ông D bồi thường là 33.200.000 đồng. Ngoài ra không có yêu cầu khoản tiền nào khác.

Tại phiên tòa bà N yêu cầu ông D bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh H các khoản đã nêu tại phiên hòa giải, tổng số tiền là 33.200.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai tại Tòa án, ý kiến đề nghị và biên bản lấy lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn ông Nguyễn Văn D trình bày: Vào khoảng 16 giờ ngày 18/6/2020 ông D một mình đi xe máy ra ruộng để cắt cỏ trâu, khi đi qua ruộng thấy ông H1 bê hết đá để lên bờ ruộng gia đình nhà ông, ông D bê ném xuống bên dưới mép bờ ruộng, và đi ra chằng cỏ trâu lên xe máy chuẩn bị về thì bốn người nhà ông H1 lên chặn đầu xe không cho ông về, làm đổ xe máy rồi giật chìa khóa xe máy, sau đó ông H1 và anh H chạy đuổi dồn ông vào rạch chè (lúc này trên tay ông D vẫn đang cầm liềm cắt cỏ trâu), ông D chỉ bỏ chạy không đánh lại, ông gọi điện cho vợ. Sau đó vợ và con trai ông D lên. Ông quay nói chuyện bê đá thì bị ông H1 đánh (đấm vào mắt bên trái), H lao vào ôm ông và cùng nhau xô đẩy ra ruộng, được mọi người can ngăn nên hai bên thôi. Lúc này có ông S (em trại ông D) đến và chỉ vào ruộng nói ông H1 làm như thế là không được, ông H1 túm cổ áo S xuống ruộng, lúc này ông D chạy vào can ngăn thì bị H giữ lại không cho vào chỗ S, H ôm khóa hai tay ông D, hai bên vùng vằng nhau, trong lúc vùng vẫy nhau thì không nhớ lúc nào liềm cầm trong tay ông D cứa đứt tay của H, sự việc là do ông D tự vệ chính đáng chứ không cố tình gây thương tích cho H. Vụ việc có sự chứng kiến của anh D và anh T ở cùng thôn. Nay gia đình anh H yêu cầu ông D bồi thường. Ông D đồng ý chi trả tiền thuốc và tiền nằm viện là 8.182.000 đồng, tiền thuốc mua ngoài 1.120.000 đồng, tiền xe đi lại 400.000 đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất của H 1.400.000 đồng và thu nhập thực tế của người chăm sóc 1.400.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 5.000.000 đồng. Tổng số tiền các khoản trên là 17.602.000 đồng. Ông D không chấp nhận số tiền thuốc không có hóa đơn, không chấp nhận số tiền thu nhập thực tế của bà N là người chăm sóc. Ông D cho rằng cả anh H và ông đều có lỗi trong việc này, lúc đầu anh H đã lao vào đánh ông, sau đó ôm ông nên cả hai bên cùng có lỗi, sự việc xảy ra không phải do một mình gia đình ông gây ra. Nên ông D chỉ đồng ý chi trả 50% số tiền 17.602.000 đồng bằng 8.801.000 đồng.

Tại phiên tòa ông D trình bày thương tích của anh H là do trong quá trình vật lộn không may cứa vào liềm của ông, anh H và ông đều có lỗi nên chỉ chấp nhận bồi thường số tiền đã trình bày tại phiên hòa giải 8.801.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn anh Đỗ Tùng D khai: Khi đến nơi thì thấy gia đình ông H1 đang cãi nhau với gia đình ông D, trong lúc cãi nhau anh thấy H lao vào ôm ông D, H dùng tay vòng qua cổ ông D, ghì cổ lại, sau đó dùng tay còn lại đấm vào mặt ông D. Lúc này ông S đến khu vực ruộng nhìn thấy ông D đang bị H và ông H1 đánh, thấy vậy S cầm cuốc lao vào đánh nhau với ông H1 nhưng bị bà N giằng cuốc lại không cho đánh nhau nữa. Sau đó S và H1 chửi nhau, S thách thức H1 "Mày lên đây mà đánh tao" thì H1 xông lên túm cổ áo S kéo xuống ruộng đánh S. C cùng xông vào đánh S thì Nam cũng vào đánh lại C. Lúc này S cầm mũ bảo hiểm đang đội trên đầu vụt một nhát vào đầu H1. D cầm liềm định xông vào thì H xông vào ôm D, ôm từ phía sau vòng ra phía trước, khóa 2 tay D. Sau đó mọi người dừng đánh nhau thì thấy H bị rách chảy máu ở cẳng tay phải.

Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án anh Đỗ Tùng D trình bày: Vào ngày 18/6/2020 vào khoảng 16 giờ 30 phút khi anh đang ở nhà thì có anh Trần Văn C ở gần nhà gọi điện bảo anh lên can thiệp sự việc đánh nhau tại khu ruộng nhà ông H1 giáp ruộng nhà ông D, anh đi lên khu vực có sự việc đánh nhau, khi đến thì thấy gia đình ông H1 (gồm có ông H1, bà N, anh H, anh C) đang cãi nhau với gia đình nhà ông D (gồm có ông D, anh Nam, bà T), khoảng vài phút cãi vã thì thấy anh H và ông D lao vào vật nhau, thấy vậy anh can ngăn đúng lúc này thì ông S cũng đến đó, thấy đánh nhau thì ông S lao vào cầm cây cuốc định đánh nhau thì bà N giật cây cuốc ra khỏi tay ông S. Lúc này H và D vẫn đang ôm nhau, đánh nhau khoảng vài phút thì anh can ngăn được hai người rời nhau ra. Sau đó ông H1 cãi nhau qua lại với ông S và ông H1 túm cổ ông S xuống ruộng dưới, đánh ông S thì anh C cũng lao vào đánh ông S, thấy vậy anh Nam lao vào đánh C, cùng lúc này anh H và ông D cũng lao vào đánh nhau, anh H ôm ông D và khóa hai tay ông D. Sau khi được mọi người can ngăn thì ông H1 và ông S không đánh nhau nữa, cùng lúc quay ra vẫn thấy anh H đang ôm ông D, khi thấy tay H chảy máu thì hai người rời nhau ra. Anh H được người nhà đưa đi chữa trị. Lúc đầu anh H và ông D đánh nhau ở ruộng trên và anh can ra được thì anh H không bị thương, không bị chảy máu trên cơ thể. Cho đến lúc các bên đánh nhau ở ruộng dưới, khi anh H ôm ông D thì ông D có cầm trong tay một cái liềm, hai bên vật nhau không rõ gây ra vết thương cho anh H khi nào. Lúc anh H và ông D rời nhau ra thì phát hiện tay anh H bị chảy máu. Khi sự việc đánh nhau xảy ra anh có cầm điện thoại để quay video sự việc đánh nhau nhưng điện thoại chỉ quay được một đoạn sự việc từ lúc ông S, ông H1, anh C, anh Nam đánh nhau và anh H ôm ông D.

Tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án, biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn anh Mai Ngọc T trình bày: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/6/2020 anh đang ngồi chơi một mình ở lán trên đồi chè tai tổ dân phố T thì có gặp anh C và được biết anh C đi tìm anh D công an viên giải quyết việc cãi nhau giữa gia đình anh C với gia đình ông D, khoảng 15 phút sau anh đi xe lên ruộng của gia đình ông D và gia đình ông H1 thì thấy ông D và ông H1 đang chửi nhau, lúc này ông D có một mình còn gia đình ông H1 có ông H1, bà N, anh H, anh C. Khi đó ông D đứng ở đồi chè cách xa gia đình ông H1, quá trình cãi nhau ông H1 có vơ bùn ném nhưng không trúng ông D, ông D dùng liềm hua nhiều lần về phía ông H1 để dọa, ông H1 không xông vào và nhặt đá cầm ở tay nhưng không ném, lúc này bà T vợ ông D và con trai là anh Nam đến đứng cạnh bờ ruộng hai bên tiếp tục cãi nhau. Lúc này N và H đứng cạnh nhau, đánh nhau bằng tay không, ông D và C cũng đánh nhau bằng chân tay, bà N và bà T can ngăn các bên. Lúc này anh D công an viên đến, anh S cũng đến, khi lên ông S cầm cuốc lên dọa ông H1 thì bà T can ngăn và giật vất ra. Sau đó ông H1 và ông S cãi chửi ông H1 túm cổ áo lôi ông S xuống ruộng ông H1 đấm ông S, ông S đấm lại ông H1, ông S tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu vụt 2-3 phát có trúng vào đầu ông H1, thấy vậy C xông vào đấm ông S, N, bà N, bà T can ngăn, còn phía trên giáp bờ ruộng thì ông D và H đang ôm ghì nhau, H ôm D từ phía sau, ghì ông D để giằng cái liềm trên tay, không ai đánh gây thương tích cho ai, sau đó mọi người dừng lại can ngăn và lấy liềm trong tay ông D, lúc này thấy H bị chảy máu phía ngoài cánh tay, mọi người đưa H đi trung tâm y tế để sơ cứu. Lúc sự việc đang diễn ra đến đoạn C lao vào thì anh D có dùng diện thoại của D quay video rồi đưa cho tôi bảo quay hộ sự việc cho đến khi kết thúc. H bị thương là giữa lúc H và ông D ôm ghi nhau sau đó chẳng may H bị liềm của ông D cắt vào tay chứ trong cả quá trình không thấy ông D có hành vi cố ý gây ra thương tích cho H.

Tại biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn anh Nguyễn Tiến N trình bày: Ngày 18/6/2020 khi đang ở nhà thì thấy bố của anh là ông D gọi điện thoại cho bà T (là mẹ anh) với nội dung là ông D đang bị nhà ông H1 cướp xe và đang bị đuổi đánh rồi. Thấy vậy anh cùng bà T đi lên khu vực ruộng của gia đình, đến nơi thấy ông H1, anh H đang cãi nhau về việc ông H1 nhấc mấy hòn đá kè ruộng chung giữa hai gia đình để lên bờ ruộng chung đó thì ông D vứt lại xuống ruộng nhà ông H1, cãi nhau được một lúc thì thấy ông H1 kéo ông D xuống ruộng nhà anh rồi ông H1 và anh H đánh nhau với ông D nên anh và anh C vào can ngăn thì hai bên dừng lại. Lúc đó, ông S cũng đi đến, ông H1 và ông S cãi nhau một lúc, tiếp đó ông H1 dùng tay túm cổ áo ông S kéo xuống ruộng dẫn đến xô xát giữa ông H1 và ông S, thấy ông S bị đánh ông D từ trên ruộng nhà anh nhảy xuống ruộng nhà ông H1 trên tay cầm theo một cái liềm từ lúc đi cắt cỏ về thì lại bị H ôm lấy cản ông D lại, cùng lúc này anh và bà T vào can ngăn ông S và ông H1 ra thì anh bị anh C đấm một phát vào gáy của mình. Sau đó thấy anh H bị thương ở tay và được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tại biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn anh Trần Văn C trình bày: Trong vụ xô xát, đánh nhau khi thấy ông H1 và ông S đánh nhau thì anh có lao vào, lúc đó anh Nam cũng đứng tại đó, thấy ông H1 bị đánh anh cũng lao vào đánh anh Nam một cái vào mặt của Nam. Trong vụ việc đánh nhau thì H bị thương ở cánh tay (tay bên nào không nhớ rõ), thương tích của H là do trong lúc H và ông D giằng co nhau tại ruộng nhà anh thì bị liềm của ông D đang cầm trên tay cứa vào, thương tích của H là do ông D cố ý.

Biên bản ghi lời khai tại cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn bà Trần Thị Tình trình bày: Khoảng 16 giờ ngày 18/6/2020 khi đang ở nhà thì nhận được điện thoại của chồng là ông D với nội dung "Bọn mày có lên đây không, chúng nó sắp đánh chết tao ở trên đồi đây này", nên bà đã bảo con trai là Nguyễn Tiến N nội dung trên rồi cùng đến khu vực ông D nói xem tình hình thế nào. Trên đường đi bà có gọi cho ông S báo lại nội dung trên. Khi đến khu vực ruộng của nhà mình thì thấy ông D và gia đình ông H1 (gồm ông H1, bà N và hai con trai) đang lời qua tiếng lại với nhau, được một lúc khi bà đang đứng bên bờ ruộng chung hai bên gia đình thì thấy ông D và H ôm giằng co nhau ở góc ruộng nhà bà, có cả ông H1 ở đó nữa, thấy ông H1 có đấm ông D nhưng không nhớ đấm bao nhiêu cái, sau đó anh ông S đi đến thì hai bên gia đình dừng việc giằng co lại, sau đó khi ông S đứng ở bờ ruộng thì ông H1 đang đứng ở ruộng dưới túm cổ áo xuống và đánh ông S, thấy vậy bà T và Nam lao vào can ngăn. Ông D thấy em trai bị đánh thì chạy xuống trên tay cầm liềm để cắt cỏ, chưa kịp xuống đến nơi thì H lao vào ôm chặt ông D từ phía sau và ghì ông D xuống bùn, sau đó mọi người can ngăn H1 và S, ra chỗ ông D và H kéo hai người ra thì thấy H bị chảy máu, do mải can ngăn H1 và S nên không để ý ông D và H gây thương tích cho nhau như nào.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 08/TgT ngày 20/12/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Yên Bái đã kết luận: Sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên của Trần Văn H hiện tại là 02% (hai phần trăm).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Chấn đã tiến hành điều tra, xác minh về vụ việc nêu trên và nhận định ông D là người gây thương tích cho H trong quá trình giằng co, D không cố ý gây thương tích cho H. Hành vi của Nguyễn Văn D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm "Vô ý gây thương tích" vì thương tích của H là 02%. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án số 08/QĐ ngày 20/7/2021. Ngày 29/01/2021 Công an thị trấn S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn S, Trần Văn H1, ngày 20/7/2021 đối với Trần Văn C về hành vi đánh nhau theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn D không có yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự việc. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật Dân sự; khoản 4 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H, buộc ông D phải bồi thường cho anh H viện phí 1.636.442 đồng, tiền thuốc 1.220.000 đồng, tiền đi lại 300.000 đồng, tiền thu nhập thực tế của H và vợ là 2.800.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần bằng 02 tháng lương tối thiểu = 2.980.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu bồi thường tiền viện phí bảo hiểm đã thanh toán là 6.545.768 đồng; tiền thuốc 597.800 đồng; tiền xe 100.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần vượt quá yêu cầu. Về án phí dân sự sơ thẩm ông D, anh H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Những người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai, tại liệu tại phiên tòa, các đương sự công nhận lời khai của người làm chứng là đúng và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bồi thương thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị đơn ông Nguyễn Văn D cư trú tại Tổ dân phố T, , thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Đây là tranh chấp quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS), Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn thụ lý, giải quyết quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự là đúng thẩm quyền; Những người làm chứng được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện đầy đủ ý kiến của họ, việc vắng mặt của những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do vậy Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn anh Trần Văn H yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bồi thường số tiền 34.600.000 đồng. Tại phiên hòa giải người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã rút yêu cầu bồi thường đối với khoản tiền thu nhập thực tế của người chăm sóc là bà N với số tiền 1.400.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 70 và Điều 244 của BLTTDS nên được chấp nhận.

Qua các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua thủ tục hỏi tại phiên tòa, qua tranh luận tại phiên tòa xác định được: Vào ngày 18/6/2020 do có mâu thuẫn về lối đi chung (bờ ruộng) của gia đình ông Trần Văn H1 và gia đình ông Nguyễn Văn D nên xảy ra cãi cự, đánh nhau. Trong đó giữa anh H và ông D có xô xát, đánh nhau 2 thời điểm: Lần thứ nhất là thời điểm anh Đỗ Tùng D- công an viên của tổ dân phố T đi lên khu vực có sự việc đánh nhau, khi anh D đến khoảng vài phút thì anh H lao vào ôm ông D, H dùng tay vòng qua cổ ông D, ghì cổ lại, sau đó dùng tay còn lại đấm vào mặt ông D, anh D đã can ngăn được, lúc này H không bị thương tích. Lần thứ 2 tại thời điểm ông H1 và ông S đánh nhau, ông D thấy ông S bị đánh thì cũng lao vào, cùng lúc này anh H lao đến ôm ông D và khóa hai tay ông D. Quá trình giằng co thì tay của H bị liềm của ông D cứa vào. Anh H, ông D, anh D, anh T và những người có mặt khi sự việc xảy ra đều xác định được tay của H bị liềm cứa tại lần thứ 2 này. Vụ việc đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Chấn xác minh, làm rõ, tỷ lệ sức khỏe bị giảm do thương tích gây nên của Trần Văn H là 02%, hành vi của ông D là vô ý không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự và ra quyết định không khởi tố vụ án. Ông D, ông S, ông H1, anh C đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau. Lời khai của anh H, ông D, anh D và anh Nam, bà T đều thể hiện khi thấy ông H1 và ông S đánh nhau, ông D tay cầm liềm định lao vào thì bị H ôm cản lại, H khóa hai tay ông D, trong lúc vùng vằng tay của H đã bị cứa vào liềm của ông D đang cầm trên tay. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của anh H tại lần thứ 2 này là để cản ông D lao vào chỗ ông S và ông H1 đánh nhau, nguyên nhân dẫn đến việc H bị thương ở tay với tỷ lệ 02% là do ông D tay cầm liềm trong lúc vùng vằng đã gây ra, lỗi của ông D là lỗi vô ý, nên phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị thiệt hại.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh H: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải bồi thường các khoản tiền điều trị ở viện, tiền thuốc, tiền đi lại, tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị thương tích, tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian điều trị, tiền tổn thất tinh thần. Phân tích các yêu cầu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Khoản tiền chi phí điều trị nội trú tại BVĐK KV Nghĩa Lộ tại Bảng kê thể hiện là 8.182.210 đồng, trong đó: Bảo hiểm y tế đã thanh toán 6.545.768 đồng; người bệnh thanh toán 1.636.442 đồng. Đối với khoản tiền 6.545.768 đồng đã được Nhà nước (bảo hiểm y tế) chi trả theo quy định, nguyên đơn yêu cầu khoản tiền này là không phù hợp nên không được chấp nhận. Đối với khoản tiền người bệnh thanh toán là 1.636.442 đồng, đây là chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe mà thực tế anh H đã trả nên được chấp nhận.

Khoản tiền thuốc theo đơn thuốc ngày 18/6/2020 là 1.220.000 đồng, đây là khoản chi phí theo chỉ định của bác S nên được chấp nhận.

Số tiền 597.800 đồng phía nguyên đơn trình bày là tiền mua thuốc ở ngoài không có hóa đơn. Qua xem xét trong hồ sơ không có đơn thuốc theo chỉ định của bác S về khoản tiền này nên không được chấp nhận.

Tiền đi lại cả đi lẫn về là 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) trong đó: 200.000 đồng tiền thuê taxi đưa H đi cấp cứu; 200.000 đồng đi xe ôm 02 lần (lần 1 bà N đi từ Bệnh viện N về tổ dân phố T, thị trấn S, Văn Chấn bằng 100.000 đồng; lần 2 anh H thuê xe ôm để ra viện về nhà là 100.000 đồng) khoản tiền này không có giấy tờ xác nhận. Đối với khoản tiền 200.000 đồng thuê xe taxi đưa anh H đi bệnh viện và 100.000 đồng thuê xe ôm đưa anh H từ viện về nhà, tuy không không cung cấp được hóa đơn thanh toán, nhưng qua xem xét thì khoản chi phí này là thực tế, hợp lý nên được chấp nhận. Đối với khoản tiền 100.000 đồng là tiền bà N (mẹ đẻ của anh H) thuê xe ôm đi từ Bệnh viện Nghĩa Lộ về nhà đây không phải là chi phí thực tế hợp lý nên không được chấp nhận.

Khoản tiền thu nhập thực tế bị mất của anh H trong thời gian nằm viện bằng 200.000 đồng/01 ngày/ 01 người x 07 ngày = 1.400.000 đồng.

Khoản tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (vợ) là 200.000 đồng/01 ngày/ 01 người x 07 ngày = 1.400.000 đồng. Tại phiên tòa bà N trình bày anh H và vợ có công việc là làm ruộng, trồng chè có thu nhập 200.000 đồng/ ngày và chỉ yêu cầu bồi thường 07 ngày. Qua xác minh tại địa phương, chính quyền cho biết lao động làm ruộng tại địa phương có thu nhập bình quân từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng. Tại Bệnh án điều trị của anh H có thể hiện thân nhân chăm sóc chính khi nằm viện là vợ. Do đó, có cơ sở chấp nhận mức thu nhập tiền công lao động phù hợp với lao động địa phương số tiền là 200.000 đồng/ngày. Anh H yêu cầu số tiền thu nhập thực tế bị mất của bản thân và số tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (vợ) khi nằm viện ở trên là hợp lý nên được chấp nhận.

Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 20.000.000 đồng. Xét thấy, quá trình anh H ôm ghì ông D, trong lúc ông D vùng vẫy tay của anh H đã cứa vào liềm của ông D, lỗi của ông D ở đây là lỗi vô ý. Qua giám định tỷ lệ tổn thương sức khỏe của anh H là 02% nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận mức bồi thường tổn thất về tinh thần cho anh H với mức phù hợp là 02 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tương ứng với số tiền 1.490.000 đồng x 02 tháng = 2.980.000 đồng. Số tiền vượt quá yêu cầu của anh H là 17.020.000 đồng không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Như vậy, qua phân tích ở trên tổng số tiền mà anh H yêu cầu ông D bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm có chi phí thực tế hợp lý được chấp nhận là 8.936.500 đồng (trong đó bao gồm chi phí điều trị 1.636.442 đồng, tiền thuốc 1.220.000 đồng; tiền xe 300.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất của H 1.400.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc 1.400.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 2.980.000 đồng). Số tiền không được chấp nhận là 24.263.500 đồng (trong đó viện phí bảo hiểm đã thanh toán là 6.545.768 đồng; tiền thuốc 597.800 đồng; tiền xe 100.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 17.020.000 đồng).

Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 447.000 đồng. Anh Trần Văn H phải chịu án án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận là 1.213.000 đồng.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 229; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 của Bộ luật Dân sự.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn H về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với ông Nguyễn Văn D. Buộc ông Nguyễn Văn D phải bồi thường cho anh Trần Văn H số tiền là 8.936.500 đồng (Tám triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 447.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Anh Trần Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.213.000 đồng (Một triệu hai trăm mười ba nghìn đồng).Các đương sự phải nộp án phí tại Chi Cục thi hành án dân sự nơi cư trú.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn H, ông Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ