- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lăng Thị P. Buộc ông Lâm Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lăng Thị P, số tiền 10.
- Căn cứ chính? Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày 27-01-2022 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thế Khuynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Lá;
Ông Nông Ngọc Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lăng Thị P, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phùng Văn P, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 11 năm 2021); có mặt.
- Bị đơn: Ông Lâm Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 11 năm 2021, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lăng Thị P trình bày:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18 tháng 8 năm 2020 tại sân nhà của Lâm Văn T, thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Lâm Văn T đã có hành vi dùng một đoạn cây vầu đánh nhiều phát, trong đó có một phát trúng vào cẳng tay trái của bà Lăng Thị P làm gẫy xương cẳng tay trái. Hậu quả làm cho bà Lăng Thị P bị tổn thương cơ thể như sau: Sẹo vết thương 1/3 dưới mặt sau cẳng tay trái là: 01 %. Sẹo vết mổ 1/3 dưới mặt sau trong cẳng tay trái là: 03 %. Gãy 1/3 dưới xương trụ đã mổ kết hợp xương: 06 %. Tổng tỷ lệ: 10%. (Mười phần trăm).
Sau khi sự việc sảy ra bà Lăng Thị P yêu cầu khởi tố Lâm Văn T để xét xử về tội Cố ý gây thương tích và yêu cầu Lâm Văn T phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm gồm các khoản: Tiền chi phí khám chữa bệnh: 16.458.000 đồng. Tiền thuốc: 802.000 đồng. Tiền thuê xe đi khám, chữa vết thương: 400.000 đồng. Tiền mất thu nhập: 200.000 đồng/01 ngày x 10 ngày = 2.000.000 đồng. Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 150.000 đồng/01 ngày x 10 ngày = 1.500.000 đồng. Tiền mất thu nhập: 5.000.000 đồng/01 tháng x 02 tháng = 10.000.000 đồng. Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 01 tháng lương tối thiểu = 1.490.000 đồng. Tổng cộng: 34.650.000 đồng (ba mươi tư triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Trước khi Tòa án mở phiên tòa, Lâm Văn T đã Thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Lăng Thị P số tiền 30.000.000 đồng; bà P đã viết đơn rút yêu cầu khởi tố nên Tòa án đã đình chỉ vụ án. Nhưng sau đó Lâm Văn T mới thực hiện bồi thường 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng không thực hiện. Bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng buộc Lâm Văn T phải thực hiện bồi thường đầy đủ như đã cam kết, trả cho bà Lăng Thị P thêm 10.000.000 đồng như đã cam kết. Trường hợp Lâm Văn T chậm trả tiền bồi thường thì phải trả lãi theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Lâm Văn T cố tình vắng mặt, không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án dù đã được tống đạt hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án: Đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về lập hồ sơ vụ án; xác định tư cách những người tham gia tố tụng; quan hệ tranh chấp; thời hạn giải quyết; thành phần Hội đồng xét xử; trình tự thủ tục, tranh tụng tại phiên tòa…Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn Lâm Văn T đã cố tình không hợp tác, không có mặt, không cung cấp chứng cứ dù đã được tống đạt giấy triệu tập, thông báo hợp lệ, không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 2 Điều 3; các Điều 280, 357, 486, 584, 585 của Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lăng Thị P; buộc Lâm Văn T Phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lăng Thị P, số tiền 10.000.000 đồng, nều chậm trả phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Lâm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Tình tiết sự kiện không phải chứng minh: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ chứng cứ như Biên bản thỏa thuận bồi thường ngày 09/3/2021 và hồ sơ vụ án hình sự.
Các tình tiết trên được các bên đương sự thừa nhận nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự không phải chứng minh.
Tình tiết sự kiện phải chứng minh: Không có.
Về chứng cứ: Sau khi khởi kiện nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ như: Bản kết luận điều tra vụ án hình sự, đề nghị truy tố số 03 ngày 08/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng; Cáo trạng số 09/CT-VKSCL ngày 20/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng; Đơn yêu cầu bồi thường ngày 20/11/2020 của bà Lăng Thị P; Biên bản thỏa thuận ngày 09/3/2021 giữa bà Lăng Thị P và ông Lâm Văn T.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn Lâm Văn T cố tình vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Nguyên đơn bà Lăng Thị P, bị đơn ông Lâm Văn T đều có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, do vậy Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lăng Thị P vắng mặt có ủy quyền cho ông Phùng Văn P có mặt. Bị đơn Lâm Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn cố tình vắng mặt không có lý do dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng có mặt không có ý kiến gì và đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy việc vắng mặt của bị đơn không gây cản trở cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Lăng Thị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Lâm Văn T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện, xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” được quy định tại khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án, các đương sự không có yêu cầu bổ sung, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về thời hiệu khởi kiện đương sự không có yêu cầu áp dụng.
[4] Về nội dung tranh chấp: Qua kết quả thu thập chứng cứ đã xác định được: Bị đơn Lâm Văn T đã cố ý gây thương tích cho nguyên đơn bà Lăng Thị P, cụ thể: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/8/2020, tại sân nhà của Lâm Văn T, thôn H, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Lâm Văn T đã có hành vi dùng một đoạn cây vầu đánh nhiều phát, trong đó có một phát trúng vào cẳng tay trái của bà Lăng Thị P làm gẫy xương cẳng tay trái. Hâu quả: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lăng Thị P như sau: Sẹo vết thương 1/3 dưới mặt sau cẳng tay trái là: 01 %. Sẹo vết mổ 1/3 dưới mặt sau trong cẳng tay trái là: 03 %. Gãy 1/3 dưới xương trụ đã mổ kết hợp xương: 06 %. Tổng tỷ lệ: 10%. (Mười phần trăm). Vụ án đã được khởi tố, truy tố theo yêu cầu của bị hại.
[5] Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng đưa vụ án ra xét xử vào ngày 09/3/2021, trước khi khai mạc phiên tòa Lâm Văn T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lăng Thị P. Hai bên đã lập biên bản thỏa thuận, sau đó bà Lăng Thị P đã có đơn rút yêu cầu khởi tố, vụ án được đình chỉ. Theo thỏa thuận Lâm Văn T có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Lăng Thị P với số tiền là 30.000.000 đồng. Lâm Văn T đã tự nguyện giao cho bà P 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng, đến nay vẫn chưa trả. Sau nhiều lần yêu cầu Lâm Văn T trả số tiền còn thiếu theo thỏa thuận nhưng Lâm Văn T không trả, bà Lăng Thị P đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng yêu cầu giải quyết. Căn cứ biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại ngày 09/3/2021 Lâm Văn T đã tự nguyện cam kết sẽ trả đủ cho bà Lăng Thị P 30.000.000 đồng, nhưng không thực hiện. Căn cứ khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự việc các bên thỏa thuận về việc bồi thường là đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Theo thỏa thuận Lâm Văn T có nghĩa vụ phải trả đủ tiền đúng thời hạn cho bà Lăng Thị P theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận, buộc bị đơn Lâm Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền, trả cho bà Lăng Thị P 10.000.000 đồng. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và bà Lăng Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Lâm Văn T không trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi tính theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm thi hành án
[6] Về án phí: Bị đơn Lâm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch vì toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3; các Điều 280, 357, 486, 584, 585 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 6 Điều 26; Điều 150; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lăng Thị P. Buộc ông Lâm Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bà Lăng Thị P, số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
2. Về án phí:
2.1. Ông Lâm Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
2.2. Bà Lăng Thị P không phải chịu án phí dân dự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn. - VKSND huyện Chi Lăng. - Chi cục THADS huyện C. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế Khuynh |