- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N. Buộc chị Triệu Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho chị Hoàng Thị N số tiền 11.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày 24-3-2022 V/v tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Liễu Thị Kim Duyên.
2. Bà Hoàng Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2021/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2. Bị đơn: Chị Triệu Thị T sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1985.
- Bà Hoàng Thị S, sinh năm 1953. Đều có địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; đều vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V và bà Hoàng Thị S: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 11 năm 2021); có mặt.
4. Người làm chứng: Bà Trần Thị D, sinh năm 1945; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị Hoàng Thị N và chị Triệu Thị T là hàng xóm nhà gần nhau. Tuy nhiên, do không hợp nhau nên thường xuyên mẫu thuẫn hàng ngày. Khoảng 18 giờ ngày 12/5/2021, chị Hoàng Thị N đang bế con gái cháu Hoàng Thị Tấm ăn trước cửa nhà, còn chị Triệu Thị Thơm đang luộc lá ngải cứu trên bếp củi ở cạnh lề đường trước cửa nhà chị Triệu Thị T. Chị Triệu Thị T thấy chị Hoàng Thị N bế con ra trước cửa nhà chị Triệu Thị T liền gây sự, chửi tục chị Hoàng Thị N trước. Hai bên có lời qua tiếng lại thì bất ngờ chị Thơm múc 03 gáo nước nóng hất vào đùi, lưng, ngực chị Hoàng Thị N; còn cháu Hoàng Thị Tấm thì bị vào đầu, cánh tay; khiến hai mẹ con bị bỏng. Sau sự việc đó chị Hoàng Thị N đi báo công an xã T và trưởng thôn P đến lập biên bản sự việc, đồng thời hai mẹ con chị đến Trạm y tế xã T để được sơ cứu, điều trị từ ngày 12-13/5/2021. Nhưng do vết bỏng lan rộng nên hai mẹ con chị chuyển ra Trung tâm y tế huyện Bình Gia điều trị từ ngày 14/5/2021 đến ngày đến ngày 21/5/2021. Trong quá trình điều trị tại bệnh viện, mẹ chồng bà Hoàng Thị S chăm sóc, phục vụ hai mẹ con chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị Tấm cho đến khi xuất viện; còn chị Hoàng Thị T không có thiện chí đến hỏi thăm, xin lỗi.
Sau khi sự việc xảy ra chị Hoàng Thị N đã báo công an giải quyết và được kết luận là không khởi tố vụ án và xử lý hành chính đối với chị Hoàng Thị T. Chị Hoàng Thị N đồng ý với kết luận của công an và không có khiếu nại, thắc mắc gì. Chị cũng thừa nhận hành vi mình được tạt nước vào nồi nước của chị Triệu Thị T là sai nhưng lúc đó quá bức xúc, lời qua tiếng lại nên chị cũng không làm chủ được hành vi của mình.
Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2021 chị Hoàng Thị N yêu cầu chị Triệu Thị T bồi thường tổng là 22.439.222 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 20/01/2022 chị Hoàng Thị N rút yêu cầu về chi phí viện phí điều trị tại bệnh viện của chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T số tiền 6.239.222 đồng lý do một phần chi phí điều trị của chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T được Bảo hiểm xã hội chi trả theo quy định và thay đổi về tiền mất thu nhập thực tế của chị Hoàng Thị N từ 200.000 đồng/1 ngày xuống còn 75.000 đồng/1 ngày; số tiền yêu cầu bồi thường xuống còn lại 13.825.000 đồng, cụ thể:
- Chi phí đi lại từ xã T đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Lạng Sơn: 02 người x 100.000 đồng/lượt đi và lượt về = 200.000 đồng.
- Chi phí đi lại từ xã T đến thành phố L để giám định sức khỏe: 02 người x 200.000 đồng/ lượt đi và lượt về = 400.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập thực tế của chị Hoàng Thị N do phải điều trị và dưỡng thương tại nhà sau khi ra viện:
+ Thời gian điều trị tại trạm y tế xã T và Trung tâm y tế huyện B: 09 ngày x 75.000 đồng/1 ngày = 675.000 đồng.
+ Thời gian điều trị, dưỡng thương tại nhà sau khi ra viện: 10 ngày x 75.000 đồng = 750.000 đồng.
- Tiền mất thu nhập thực tế bà Hoàng Thị S trong thời gian phục vụ chăm sóc chị Hoàng Thị N 09 ngày điều trị: 09 ngày x 200.000 đồng = 1.800.000 đồng.
- Tiền tổn thất tinh thần của chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T mỗi người 5.000.000 đồng/1 người; tổng số tiền là 10.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị N rút yêu cầu về chi phí tiền xe đi lại 600.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu chị Triệu Thị T bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm còn lại là 13.225.000 đồng.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn chị Triệu Thị T trình bày:
Khoảng 18 giờ ngày 12/5/2021, khi chị Triệu Thị T đang đun nước lá ngải để nấu nước làm bánh ở sân nhà thì có bà Trần Thị D từ vườn rau đi qua hỏi là “Thơm nồi gì đấy nồi nước thịt gà à” chị T trả lời là “Không nồi nước lá ngải cứu, nuôi được mấy con gà thịt hết rồi, không có gà thịt rồi” thì chị Hoàng Thị N gần đó nói “Hết gà thịt rồi, hết gà thịt thật rồi” thì chị Triệu Thị T nói “Người ta ghét như bãi cứt chó ngoài đường nói vào tao làm đéo gì”. Tiếp đó chị Hoàng Thị N bế con lên trước của nhà chị Hoàng Thị T và nói “Tao nói với con tao nói đéo gì mày”. Sau đó giữa hai người tiếp tục lời qua tiếng lại chửi nhau. Chị Hoàng Thị N bế con vào nhà và lấy chậu nước ra hất vào nồi ngải cứu vào chân chị Triệu Thị T. Do ức chế vì lá ngải cứu chị đi hái vất vả cả ngày để làm bánh kiếm tiền thu nhập cho hai mẹ con mà bị chị Hoàng Thị N hất nước bẩn (là nước tắm của con chị Hoàng Thị N) làm hỏng nồi nước nên chị Triệu Thị T mới hất nước ngải cứu vào chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T.
Trong quá trình hai mẹ con chị Hoàng Thị N điều trị tại bệnh viện, chị Triệu Thị T có biết, nhưng do công việc không ổn định, không có thu nhập, sức khỏe bị bệnh tật nên chị không ra thăm hỏi được và cũng thừa nhận hành vi hất nước sôi vào người chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T là sai trái. Tuy nhiên, chị Triệu Thị T cho rằng do lỗi chị Hoàng Thị N chửi và hất nước trước. Vì vậy, chị Triệu Thị T không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị Hoàng Thị N.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn V có ý kiến: Anh Hoàng Văn V kết hôn với chị Hoàng Thị N, có một người con chung tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 30/10/2019. Quá trình chung sống, do điều kiện sinh hoạt nên chị Hoàng Thị N sinh sống tại thôn P, xã T, huyện Bình Gia; còn anh và mẹ Hoàng Thị S sinh sống tại thôn N, xã Q, huyện Bình Gia. Chị Hoàng Thị N không có nghề nghiệp ổn định, thi thoảng đi làm thuê. Sự việc ngày 12/5/2021 xảy ra giữa chị Hoàng Thị N và chị Triệu Thị T, anh Hoàng Văn V không được chứng kiến do đang đi làm thuê ở dưới Bắc Ninh. Quá trình vợ và con phải điều trị tại bệnh viện thì mẹ Hoàng Thị S ra chăm sóc. Nay chị Hoàng Thị N yêu cầu khởi kiện chị Triệu Thị T bồi thường sức khỏe bị xâm phạm, anh Hoàng Văn V hoàn toàn nhất trí. Anh không có yêu cầu độc lập và ủy quyền cho chị Hoàng Thị N tham gia tố tụng đến khi kết thúc vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị S có ý kiến bà là người trực tiếp chăm sóc khi chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T1 bị bỏng, điều trị tại bệnh viện. Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N; không có yêu cầu độc lập và ủy quyền cho chị Hoàng Thị N tham gia tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án với lý do sức khỏe yếu, khó khăn trong việc đi lại.
Tòa án đã tiến hành lấy lời người làm chứng bà Trần Thị D cho biết sự việc ngày hôm đó thấy chị Hoàng Thị N và Triệu Thị T cãi chửi nhau, hai bên có hất nước. Chị Triệu Thị Nam hất nước nóng vào chị Hoàng Thị N gây bỏng hai mẹ con; sau đó chị Hoàng Thị N đi trình báo Công an đến làm việc và bà Dau yêu cầu xét xử vắng mặt lý do tuổi cao sức yếu khó khăn trong việc đi lại. Còn người đại diện thôn P, xã T, huyện Bình Gia cũng cho biết hai gia đình là hàng xóm nhà gần nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xích mích vụn vặt hàng ngày; hôm xảy ra sự việc đại diện thôn có ra lập biên bản sự việc và không có ý kiến gì về việc chị Hoàng Thị N yêu cầu chị Triệu Thị T yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; đề nghị xử theo quy định của pháp luật.
Tòa án xác minh với Trung tâm y tế huyện B về bệnh án điều trị của chị Hoàng Thị N ghi kết luận tình trạng người ra viện là đỡ giảm và hướng điều trị, các chế độ tiếp theo là ra viện – kê đơn thì cho biết với tình trạng sức khỏe hiện tại chị Hoàng Thị N cần nghỉ ngơi, dưỡng sức để bình phục sức khỏe cần thiết là khoảng 10 ngày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân xã T có công văn số 22/CV-UBND ngày 11/01/2022 trả lời về việc xác minh thu nhập tài liệu chứng cứ: Chị Hoàng Thị N có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, huyện Bình Gia; chị Hoàng Thị N là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không xác định được thu nhập theo ngày, tháng của chị Hoàng Thị N. Còn hiện nay tại địa phương mức thu nhập bình quân là 75.000đồng/người/ngày. Quá trình sinh sống tại địa phương, trước ngày 12/5/2021 giữa chị Hoàng Thị N và chị Triệu Thị T đã nhiều lần xảy ra mâu thuẫn và được chính quyền thôn gọi đến nhắc nhở, hòa giải.
Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Bình Gia có công văn số 09/UBND ngày 10/01/2022 về cung cấp xác minh mức thu nhập đối với bà Hoàng Thị S: Trước thời điểm ngày 12/5/2021 bà Hoàng Thị S làm nông, lâm nghiệp; mức bình quân của một người lao động làm nông, lâm nghiệp, làm thuê trên địa bàn là 200.000đồng/người/ngày.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 176/2021/PYTT ngày 16/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn đối với chị Hoàng Thị N kết luận: Sẹo bỏng vùng bả vai xuống ngực trái 01%; sẹo bỏng vùng bả vái trái tới đường nách sau 02%; 02 sẹo bỏng mặt trước đùi trái 02%; sẹo bỏng 1/3 giữa mặt ngoài đùi phải 02%. Tổng tỷ lệ là 07%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 177/2021/PYTT ngày 16/6/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn đối với cháu Hoàng Thị Tấm kết luận: Sẹo bỏng vùng đình chẩm 01%; sẹo bỏng vùng bả vai 01%; sẹo bỏng vùng cẳng tay 01%; sẹo bỏng vùng đùi phải 01%; 02 sẹo bỏng vùng cẳng chân phải 02%. Tổng tỷ lệ là 06%.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các bước về trình tự, thủ tục tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định tại Điều 48, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị N; buộc chị Triệu Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho chị Hoàng Thị N số tiền từ 11 triệu đến 13 triệu đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu bồi thường về chi phí viện phí và tiền xe đi lại do nguyên đơn rút yêu cầu. Về án phí chị Triệu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định; chị Hoàng Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Hoàng Thị N khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Vì vậy quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm” theo khoản 6 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Hoàng Thị N, bị đơn chị Triệu Thị Thơm đều có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Bình Gia thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo cho các đương sự yêu cầu viết bản tự khai, biên bản lấy lời khai theo quy định, cung cấp tài liệu chứng cứ và tham gia phiên họp tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V và bà Hoàng Thị S đã có văn bản ủy quyền; còn người làm chứng bà Trần Thị D trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai và bà Dau yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 228 và khoản 2 Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét thấy việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Về nội dung vụ án: Các đương sự đều thừa nhận sự việc ngày 12/5/2021 là đúng sự thật, phù hợp với các biên bản lấy lời khai của đương sự, người làm chứng. Do đó, hành vi tạt nước sôi của chị Triệu Thị T là hành vi trái pháp luật. Hành vi của chị Triệu Thị T cũng xuất phát từ lỗi của chị Hoàng Thị N đã hất nước vào nồi nước đun lá ngải làm bánh của chị Triệu Thị T trước. Nên xác định hai bên đều có lỗi. Hậu quả chị Hoàng Thị N tỷ lệ thương tích là 07%. Cháu Hoàng Thị T tỷ lệ thương tích 06%. Tổng tổn hại sức khỏe hai người là 13%. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra xác minh nguồn tin tội phạm do Công an xã T, huyện B xác định hành vi không cấu thành tội phạm nên có thông báo không khởi tố vụ án hình sự, đây là tình tiết không phải chứng minh; các đương sự cũng nhất trí với quyết định không khởi tố vụ án hình sự và chuyển sang khởi kiện vụ án dân sự. Do đó, chị Triệu Thị Thơm phải bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm do lỗi của mình gây ra theo quy định tại Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự.
[4] Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị N là có căn cứ nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể:
[5] Tiền thu nhập thực tế; tại công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã T xác nhận mức thu nhập bình quan của một lao động tự do là 75.000 đồng/người/ngày, còn Ủy ban nhân dân xã Q là 200.000 đồng/ người/ngày. Do đó buộc chị Triệu Thị T bồi thường thu nhập thực tế cho chị Hoàng Thị N trong thời gian điều trị tại trạm y tế xã T và tại Trung tâm y tế huyện B 09 ngày; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà 10 ngày, theo kết luận giấy ra viện của bác sĩ là đỡ giảm; tổng cộng 19 là 1.425.000 đồng; tiền công người phục vụ chăm sóc trong thời gian điều trị ở bệnh viện 09 ngày là 1.800.000 đồng.
[6] Tiền bồi thường tổn thất tinh thần chị Hoàng Thị N yêu cầu được bồi thường cho chị và cháu Hoàng Thị Tấm là 10.000.000 đồng. Tổn thất sức khỏe của hai người là 13%. Tuy nhiên, trong vụ việc xảy ra hai bên cùng có lỗi. Chị Hoàng Thị N có hành vi nói mỉa mai chị Triệu Thị T trước và lấy nước bẩn (nước tắm của con gái) hất vào nồi nước lá ngải làm bánh của chị Triệu Thị T. Sau đó hai bên xảy ra cãi vã, chửi nhau. Chị Triệu Thị T không làm chủ được hành vi đã lấy nước nóng trong nồi hất vào chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T1. Do vậy, cần xem xét giảm số tiền yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần cho chị Hoàng Thị N với số tiền 5.000.000 đồng, tương đương 3,3 tháng lương tối thiểu xuống còn 02 tháng lương tối thiểu là 1.490.000 đồng x 2 = 2.980.000 đồng để tương xứng với hành vi lỗi của mình gây ra. Còn đối với số tiền bồi thường tổn thất tinh thất của cháu Hoàng Thị T1 vẫn được giữ nguyên 5.000.000 đồng vì cháu không có lỗi gì trong vụ án này. Sau khi sảy ra sự việc, do vết bỏng nặng cháu Hoàng Thị T1 hoảng loạn, khóc nhiều ngày. Do đó, chấp nhận một phần yêu cầu về bồi thường tổn thất tinh thần của chị Hoàng Thị N, buộc chị Triệu Thị T bồi thường cho chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T1 số tiền 7.980.000 đồng.
[7] Tổng số tiền mà chị Triệu Thị T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho chị Hoàng Thị N là 11.205.000 đồng.
[8] Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường về chi phí tiền xe đi lại từ xã T đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Lạng Sơn và từ xã T đến thành phố L để giám định sức khỏe số tiền 600.000 đồng và chi phí viện phí điều trị tại bệnh viện của chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T1 số tiền 6.239.222 đồng do nguyên đơn rút yêu cầu.Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức, pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V và bà Hoàng Thị S không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; các khoản 1, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị đơn Triệu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Chị Hoàng Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[11] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 280, 357, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 150; khoản 2 Điều 228; khoản 2 Điều 229; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12; điểm b khoản 1 Điều 24; các khoản 1, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị N. Buộc chị Triệu Thị T phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho chị Hoàng Thị N số tiền 11.205.000 đồng (mười một triệu hai trăm linh năm nghìn đồng).
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chi phí tiền xe đi lại và viện phí điều trị tại bệnh viện của chị Hoàng Thị N và cháu Hoàng Thị T.
3. Về án phí:
Chị Hoàng Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Triệu Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 560.250 đồng (năm trăm sáu mươi nghìn hai trăm năm mươi đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hiệt |