vanban.org

Bản án 01/2021/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.

Trƣờng hợp TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên thì Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam có quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ; tài sản cụ thể nhƣ sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 180 m2 đất (Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "kinh doanh"
  • Tòa quyết gì? Buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/KDTM-ST
Ngày 02 tháng 4 năm 2021
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trƣơng Thị Hƣơng Nghĩa

2. Bà Lê Thị Bích Thuần

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm thụ lý số: 83/2020/TLST - KDTM ngày 22 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp” theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST- KDTM ngày 21 tháng 01 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam.

Địa chỉ: Số 108, Trần Hƣng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đức Th- Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Nhƣ H– Cán bộ Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam, chi nhánh Bình Xuyên, (Theo văn bản ủy quyền số 013/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 08 tháng 01 năm 2020 “có mặt’’

2. Bị đơn:

- Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1981, “vắng mặt”

- Bà Lƣu Thị Th, sinh năm 1982, “vắng mặt”

Đều ở địa chỉ: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 16 tháng 10 năm 2020 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo quy định về việc cho vay, Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên (Gọi tắt là Ngân hàng) đã làm thủ tục cho ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th vay tiền nhiều lần cụ thể nhƣ sau:

Ngày 30 tháng 8 năm 2018 giữa Ngân hàng với ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đã ký kết Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262; mục đích sử dụng khoản vay theo hợp đồng là: Bù đắp chi phí xây dựng nhà ở thuộc thửa đất số 07-a, tờ bản đồ số QH tại xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020 giữa Ngân hàng với ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đã ký kết Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262; mục đích sử dụng khoản vay theo hợp đồng là: Kinh doanh Kraoke, hàng tạp hoá, vật liệu xây dựng các loại.

Theo hợp đồng hai bên thỏa thuận lãi xuất trong hạn theo phƣơng thức thả nổi và đƣợc ghi trong giấy nhận nợ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Căn cứ vào các hợp đồng cho vay Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đoạt, bà Thùy vay tiền nhiều lần và các lần cho vay bà Lê Thị Thùy đều ký giấy nhận nợ với Ngân hàng.

Theo giấy nhận nợ ngày 31 tháng 8 năm 2018 thì Ngân hàng đã giải ngân cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy vay tổng số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay: 60 tháng (Kể từ ngày ký hợp đồng); lãi suất tiền vay theo phƣơng thức thả nổi, mức lãi suất tại thời điểm ký nhận nợ là: 8,2%/năm; mục đích sử dụng khoản vay: Bù đắp chi phí xây dựng nhà ở thuộc thửa đất số 07-a, tờ bản đồ số QH tại xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Theo giấy nhận nợ ngày 02 tháng 7 năm 2019 thì Ngân hàng đã giải ngân cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy vay tổng số tiền 1.300.000.000 đồng, thời hạn vay: 10 tháng (Kể từ ngày giải ngân); lãi suất tiền vay theo phƣơng thức thả nổi, mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là: 8.8%/năm; mục đích sử dụng khoản vay: Thanh toán tiền mua hàng.

Theo giấy nhận nợ ngày 04 tháng 7 năm 2019 thì Ngân hàng đã giải ngân cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy vay tổng số tiền 1.200.000.000đồng, thời hạn vay: 10 tháng (Kể từ ngày giải ngân); lãi suất tiền vay theo phƣơng thức thả nổi, mức lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8.8%/năm; mục đích sử dụng khoản vay: Thanh toán tiền mua hàng.

Theo giấy nhận nợ ngày 16 tháng 01 năm 2020 thì Ngân hàng đã giải ngân cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy vay tổng số tiền 370.000.000 đồng, thời hạn vay: 10 tháng (Kể từ ngày giải ngân); lãi suất tiền vay theo phƣơng thức thả nổi, mức lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.5%/năm; mục đích sử dụng khoản vay: Thanh toán tiền mua hàng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên bà Lƣu Thị Thvà ông Tạ Văn Đ đã thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cụ thể nhƣ sau:

Tài sản 1: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 và phụ lục của hợp đồng bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ đã thế chấp quyền sử dụng 180m2 đất (Trong đó có 130 m2 đất ở, 50m2 đất cơ sở sản xuất, kinh doanh; thuộc tờ bản đồ số QH TĐC Trại Cúp, thửa đất số 07-a theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 509931, số vào sổ: CH 00422 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 12/07/2011, đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản 2: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ đã thế chấp Quyền sử dụng diện tích 150m2 đất, loại đất thƣơng mại, dịch vụ thuộc tờ bản đồ QH, thửa đất 128B, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV 372069 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015 đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trong thời hạn vay TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy mới trả đƣợc 450.000.000đồng nợ gốc và tiền lãi của các hợp đồng tính đến ngày 15/4/2020 sau đó không trả thêm đƣợc bất cứ khoản tiền nào khác cho Ngân hàng mặc dù ngân hàng đã đôn đốc nhiều lần nhƣng TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy vẫn không trả nợ cho Ngân hàng. Theo thỏa thuận trong các hợp đồng Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ của TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc,bà Thùy sang nợ quá hạn.

Tại đơn khởi kiện Ngân hàng đề nghị Toà án nhân dân Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc buộc bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ phải trả cho ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên toàn bộ nợ gốc, lãi theo: Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018 – HĐCV/NHCT262 ngày 30/8/2018, là 1.110.326.688đồng, trong đó: (Nợ gốc: 1.050.000.000đồng; tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn là: 60.326.688 đồng tính hết ngày 16/10/2020). Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020 – HĐCVHM/NHCT262 ngày 15/01/2020, là 3.047.584.897đồng; trong đó: (Nợ gốc: 2.870.000.000đồng; tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn là: 177.584.897đồng tính đến hết ngày 16/10/2020).

Ngày 24 tháng 12 năm 2020 TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy đã trả cho Ngân hàng đƣợc 1.400.000.000 đồng tiền nợ gốc. Ngân hàng đã trả cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV 372069 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015 đứng tên bà Lƣu Thị Th của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018.

Tính hết ngày 02 tháng 4 năm 2021 TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy chỉ còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi của các hợp đồng tín dụng là 2.953.234.939 đồng, trong đó: (Nợ gốc: 2.520.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn là: 433.234.939 đồng).

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.935.234.939 đồng (trong đó nợ gốc là 2.520.000.000đồng; tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn là 433.234.939đồng) đồng thời, bà Thùy và TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvẫn phải có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng số tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ký ngày 30/08/2018 và Hợp đồng cho vay số 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ký ngày 15/01/2020 cùng các giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán hết nợ vay.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ không thực hiện việc trả nợ theo quyết định của bản án, Ngân hàng đƣợc quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 đứng tên bà Lƣu Thị Th và phụ lục của hợp đồng để Ngân hàng thu hồi nợ.

Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết xử lý đối với tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 (tài sản mang tên bà Lƣu Thị Th).

Bị đơn TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvắng mặt nhƣng tại biên bản làm việc ngày 20 tháng 11 năm 2020 TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúctrình bày và xác nhận: Ông đã biết việc Tòa án thụ lý vụ án và việc Ngân hàng TMCP công thƣơng chi nhánh Bình xuyên khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông thanh toán khoản nợ vay của Ngân hàng. Vợ chồng ông có ký hợp đồng vay nợ và hợp đồng thế chấp tài sản để vay tiền của Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Xuyên và đến nay chƣa thanh toán đƣợc nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng ông trả nợ là đúng, ông không có thắc mắc gì. Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại 02 tài sản thế chấp ông không đồng ý. Ông từ chối ký vào biên bản làm việc.

Bị đơn bà Thùy vắng mặt nhƣng tại biên bản làm việc ngày 26 tháng 3 năm 2021 bà Thùy trình bày và xác nhận: Vợ chồng bà có ký 02 hợp đồng cho vay để vay tiền Ngân hàng và 02 hợp đồng thế chấp tài sản để vay vốn Ngân hàng và đã trả đƣợc một phần số nợ nhƣ Ngân hàng khởi kiện là đúng, bà không bổ sung gì thêm.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà thanh toán trả tổng số tiền nợ cả gốc và lãi, số tiền lãi tính đến hết ngày 24/12/2020 là 2.847.406.712 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/12/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc bà đồng ý và không có thắc mắc gì về số tiền nợ nhƣng hiện nay kinh tế đang khó khăn do dịch bệnh nên chƣa có tiền để trả ngay cho Ngân hàng đƣợc, bà đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng bà đƣợc trả dần số nợ, thời gian trả nợ bà chƣa xác định đƣợc.

Trƣờng hợp vợ chồng bà không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng, bà đồng ý phát mại tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 giữa vợ chồng bà với Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quan điểm nhƣ sau:

Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của ngƣời tiến hành tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.

Về đƣờng lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 91; khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Buộc ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.953.243.939 đồng (Trong đó nợ gốc 2.520.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng. TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đối với số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 28 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 cùng giấy nhận nợ.

Trƣờng hợp ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên thì toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 cùng phụ lục của hợp đồng đƣợc xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật (Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án).

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam về việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 là Quyền sử dụng diện tích 150m2 đất, loại đất thƣơng mại, dịch vụ thuộc tờ bản đồ QH, thửa đất 128B, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV 372069 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015 đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam khởi kiện yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả tiền vay từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết mục đích vay để sửa chữa nhà và kinh doanh Karaoke nên đây là vụ án kinh doanh thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời hạn giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập và gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để bị đơn đến Tòa án làm việc nhƣng bị đơn đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải liên quan đến phần trả nợ và tài sản thế chấp đƣợc.

Bị đơn bà Thùy vắng mặt tại phiên tòa nhƣng bà có đơn đề nghị tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt bà nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Thùy theo quy định của pháp luật. Bị đơn là TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcđã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 30 tháng 8 năm 2018; Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 cùng phụ lục của hợp đồng và Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 cùng phụ lục của hợp đồng đƣợc ký kết giữa Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bình Xuyên (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đƣợc giao kết đúng quy định của pháp luật.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.953.234.939 đồng (Trong đó nợ gốc: 2.520.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng, tính đến hết ngày 02 tháng 4 năm 2021) và yêu cầu tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh của các theo hợp đồng cho vay kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ. Bị đơn thừa nhận khoản tiền nợ mà Ngân hàng yêu cầu và không có thắc mắc gì nhƣng chƣa có tiền trả cho Ngân hàng. Bà Thùy đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng bà đƣợc trả dần số nợ, thời gian trả nợ bà chƣa xác định đƣợc nên không đƣợc Ngân hàng đồng ý. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ: 2.953.234.939 đồng (Trong đó: Nợ gốc 2.520.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng, tính đến hết ngày 02 tháng 4 năm 2021) và tiếp tục trả tiền lãi của số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 30 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 cùng giấy nhận nợ.

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Hội đồng xét xử thấy: Theo các tài liệu mà Ngân hàng nộp tại Tòa án cũng nhƣ lời trình bày của các đƣơng sự thì bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ có ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 cùng phụ lục của hợp đồng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay tại Ngân hàng. Bà Thùy khẳng định khi ký hợp đồng thế chấp cùng phụ lục của hợp đồng để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất cùng các tài sản đƣợc xây dựng trên đất để đảm bảo cho các khoản vay của TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy tại Ngân hàng đều tự nguyện, không bị ai ép buộc. Bà Thùy đồng ý bán phát mại tài sản thế chấp, theo hợp đồng số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ trong trƣờng hợp vợ chồng bà không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng. TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúckhông đồng ý xử lý đối với tài sản thế chấp trong trƣờng hợp vợ chồng ông không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng. Hiện TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp. Tại mục b của điểm 2.4 hợp đồng thế chấp tài sản bà Thùy và TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúccam kết mọi tài sản gắn liền với thửa đất trƣớc và trong quá trình sử lý tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp và bên nhận thế chấp đƣợc quyền xử lý, cho dù tài sản đó tồn tại trƣớc hay sau thời điểm ký hợp đồng này cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tƣ, cải tạo, xây dựng thêm hay cho phép bên thứ ba đầu tƣ xây dựng thêm. Tất cả các tài sản xây dựng trên diện tích thửa đất hiện tại và sau ngày ký hợp đồng đảm bảo tiền vay đều thuộc tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay Ngân hàng. Nhƣ vậy có đủ cơ sở để khẳng định bà Thùy và TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcđã dùng toàn bộ khối tài sản của mình là Quyền sử dụng 180 m2 đất (Trong đó có 130 m2 đất ở, 50m2 đất cơ sở sản xuất, kinh doanh; thuộc tờ bản đồ số QH TĐC, thửa đất số 07-a, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 509931, số vào sổ: CH 00422 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 12/07/2011, đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để đảm bảo cho các khoản vay của ông Đoạt, bà Thùy tại Ngân hàng. Việc các bên ký hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay là đúng quy định của pháp luật và tài sản thế chấp đã đƣợc đăng ký giao dịch bảo đảm. Chính vì vậy, nếu ông Đoạt, bà Thùy không trả đƣợc số nợ trên cho Ngân hàng thì toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên phần đất nêu trên sẽ đƣợc xử lý để Ngân hàng thu hồi nợ theo nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Ngân hàng, bà Thùy và các điều khoản của hợp đồng thế chấp.

Việc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcđƣa ra ý kiến không đồng ý xử lý đối với tài sản thế chấp trong trƣờng hợp vợ chồng ông không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng là không có căn cứ nên không đƣợc chấp nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cùng với chính quyền địa phƣơng đến tại thửa đất số 07-a, khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để tiến hành thẩm định tài sản nhƣng TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúckhông đồng ý cho thẩm định tài sản và đóng cửa nhà nên không thể tiến hành thẩm định cụ thể đối với phần tài sản thế chấp tại Ngân hàng đƣợc nên khi xử lý đối với tài sản thế chấp Cơ quan thi hành án căn cứ vào số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm Thi hành án để kê biên đối với tài sản.

Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu Tòa án giải quyết xử lý đối với tài sản thế chấp sau: Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 là Quyền sử dụng 150m2 đất, loại đất thƣơng mại, dịch vụ thuộc tờ bản đồ QH, thửa đất 128B, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV 372069 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015 đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện không trái với quy định của pháp luật nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu là không yêu cầu xử lý đối với 01 tài sản nêu trên.

Về án phí: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm nên đƣợc hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng tự chi phí cho việc thẩm định tài sản và xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 91; khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Buộc ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th phải trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.953.243.939 đ (Hai tỷ chín trăm năm mƣơi ba triệu hai trăm bốn mƣơi ba nghìn chín trăm ba mƣơi chín đồng) (Trong đó nợ gốc 2.520.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng). TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đối với số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 30 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 cùng các giấy nhận nợ.

Trƣờng hợp ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng thì toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 đƣợc xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật. (Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án).

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam về việc xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 là Quyền sử dụng 150m2 đất, loại đất thƣơng mại, dịch vụ thuộc tờ bản đồ QH, thửa đất 128B, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BV 372069 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015 đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải chịu 91.064.000đ (Chín mƣơi mốt triệu không trăm sáu mƣơi tƣ nghìn đồng) án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm; hoàn trả Ngân hàng 56.000.000đ (Năm mƣơi sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số /2017/0009881 ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.

Đƣơng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Bình Xuyên;

- Chi cục TH DS huyện Bình Xuyên;

- Các đƣơng sự;

- Lƣu HS, VP.

Phùng Thị Tố Uyên

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT

NAM

HUYỆN BÌNH XUYÊN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: /2021/KDTM-ST

Ngày 02 tháng 4 năm 2021

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Lợi

2. Bà Lê Thị Bích Thuần

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm thụ lý số: 83/2020/TLST - KDTM ngày 22 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp” theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXXST- KDTM ngày 21 tháng 01 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam.

Địa chỉ: Số 108, Trần Hƣng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đức Thọ- Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo văn bản ủy quyền số 168/VBPC- CNBX ngày 22/7/2020: Ông Lê Quang Hòa, sinh 1984 – Chức vụ Phó giám đốc Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam, chi nhánh Bình Xuyên, “có mặt’’.

2/ Bị đơn:

- Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1981, “vắng mặt”.

- Bà Lƣu Thị Th, sinh năm 1982, “có mặt’’.

Đều ở địa chỉ: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 16 tháng 10 năm 2020 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo quy định về việc cho va Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh huyện Bình Xuyên đã làm thủ tục cho ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th vay tiền nhiều lần cụ thể nhƣ sau:

Ngày 28 tháng 8 năm 2018 giữa Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh huyện Bình Xuyên (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đã ký kết Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262. Theo hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy vay tổng số tiền 1.500.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng (Kể từ ngày ký hợp đồng); lãi suất tiền vay theo phƣơng thức thả nổi, mức lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng: 11.0%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn;

- Mục đích cho vay: Bù đắp chi phí xây dựng nhà ở thuộc thửa đất số 07-a, tờ bản đồ số QH tại xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Giấy nhận nợ số 01 ngày 31/08/2019 vay số tiền là 1.500.000.000 đồng, dƣ nợ gốc đến hết ngày 22/07/2020 là 1.050.000.000 đồng.

- Tổng số tiền thu nợ gốc đến hết ngày 22/07/2020: 450.000.000 đồng

- Tổng số tiền thu nợ lãi đến hết ngày 22/07/2020: 294.616.072 đồng

- Tổng dƣ nợ tính hết ngày 22/07/2020 là 1.081.779.421 đồng, trong đó:

+ Nợ gốc:

1.050.000.000 đồng;

+ Lãi cộng dồn:

31.010.959 đồng;

+ Lãi phạt quá hạn:

768.462 đồng.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020 giữa Ngân hàng và ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đã ký kết Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262.

- Số tiền cấp tín dụng: 2.900.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ chín trăm triệu đồng)

- Phƣơng thức cấp tín dụng: Theo hạn mức tín dụng

- Thời gian duy trì hạn mức: 12 tháng

- Mục đích cho vay: Kinh doanh karaoke, hàng tạp hóa, vật liêu xây dựng các loại.

- Lãi suất cho vay: Áp dụng lãi suất cho vay theo phƣơng thức thả nổi. Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9.5%/năm và áp dụng các chƣơng trình ƣu đãi tín dụng của NHCT theo từng thời kỳ.

- Chi tiết các giấy nhận nợ nhƣ sau:

Giấy nhận nợ ngày 16/01/2020 số tiền nhận nợ 370.000.000đồng, thu nợ gốc: 0 đồng đến hết ngày 6/10/2020, còn dƣ nợ gốc 370.000.000đồng;

Giấy nhận nợ ngày 2/7/2019 ssoo tiền nhận nợ là 1.300.000.000đ; thu nợ gốc số tiền 0 đồng, đến hết ngày 6/10/2020 còn nợ 1.300.000.000đồng;

Giấy nhận nợ ngày 4/7/2019 số tiền nhận nợ là 1.200.000.000đồng, thu nợ gốc số tiền 0 đồng; đến hết ngày 6/10/2020 còn dƣ nợ gốc 1.200.000.000đồng;

Tống số tiền thu nợ gốc đến hết ngày 16/10/2020: 0 đồng;

Tổng số tiền thu nợ lãi đến hết ngày 16/10/2020: 182.224.496đồng

Tổng dƣ nợ của Hợp đồng cho vay số 20.26.0002/2020 – HĐCVHM/NHCT262 ký ngày 15/01/2020 là 3.047.584.897 đồng, trong đó:

Nợ gốc: 2.870.000.000đồng;

Lãi cộng đồn 125.372.627đồng;

Lãi phạt cộng dồn: 52.212.270đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên của bà Lƣu Thị Thvà ông Tạ Văn Đ đã ký hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất sau:

Tài sản 1: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 và phụ lục của hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên và Bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ: Là quyền sử dụng 180 m2 đất (Trong đó có 130 m2 đất ở, 50m2 đất cơ sở sản xuất, kinh doanh; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; thời gian sử dụng: Đất ở lâu dài, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh lâu dài.; thuộc tờ bản đồ số QH TĐC Trại Cúp, thửa đất số 07-a, Nguồn gốc sử dụng: Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhận chuyển nhƣợng.; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 509931, Số vào sổ cấp GCN CH 00422 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 12/07/2011, đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tài sản 2: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 giữa Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bình Xuyên và Bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ:

+ Quyền sử dụng đất: 01 Quyền sử dụng đất diện tích 150 m2 (Bằng chữ: Một trăm năm mƣơi mét vuông), loại đất: đất thƣơng mại, dịch vụ; hình thức sử dụng: riêng 150 m2; thời gian sử dụng: Lâu dài ; thuộc tờ bản đồ số QH, thửa đất số 128B, Nguồn gốc sử dụng: Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 372069, Số vào sổ cấp GCN CH 01224 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015, đứng tên Bà Lƣu Thị Th

+ Tài sản gắn liền với đất: 01 nhà 03 tầng diện tích sàn xây dựng khoảng 450 m2 và toàn bộ các công trình phụ trợ đƣợc xây dựng trên khuôn viên thửa đất hợp pháp số 128B nêu trên.

+ Địa chỉ tài sản: Khu TĐC Trại Cúp, xã Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc

Tại đơn khởi kiện Ngân hàng đề nghị Toà án nhân dân Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc buộc Bà Lƣu Thị Th và Ông Tạ Văn Đ trả Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên toàn bộ nợ gốc, lãi theo:

Buộc ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Thtrả cho Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Bình Xuyên toàn bộ nợ gốc, lãi theo: Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018 – HĐCV/NHCT262 ký ngày 30/8/2018, số nợ phải trả tính hết ngày 16/10/2020 là 1.110.326.688đồng, trong đó:

Nợ gốc: 1.050.000.000đồng;

Lãi quá hạn: 57.908.220đồng;

Lãi phạt: 2.418.468đồng.

Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020 – HĐCVHM/NHCT262 ký ngày 15/01/2020, số nợ phải trả tính đến hết ngày 16/10/2020 là 3.047.584.897đồng;

Trong đó: Nợ gốc: 2.870.000.000đồng

Lãi quá hạn: 125.372.627đồng;

Lãi phạt: 52.212.270 đồng;

Đồng thời, Bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ vẫn có trách nhiệm tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên số tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ký ngày 30/08/2018 và Hợp đồng cho vay số 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ký ngày 15/01/2020 đến khi thanh toán hết nợ vay.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ không thực hiện ngay việc trả hết nợ theo quyết định của bản án, Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Bình Xuyên đƣợc đề nghị Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.

Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án ngày 24/12/2020, anh Đoạt, chị Thùy đã thanh toán trả nợ cho ngân hàng tổng số tiền nợ gốc 1.400.000.000 đồng. Ngân hàng đã trả lại cho vợ chồng tôi tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 372069, do Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015, đứng tên Lƣu Thị Th.

Đến nay anh Đoạt, chị Thùy còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 2.847.406.714 đồng tính đến ngày 25/12/2020.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Đoạt, chị Thùy phải thanh toán số tiền 2.847.406.714 đồng, cụ thể nhƣ sau:

Khoản vay 1: Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 30/08/2018:

Số tiền gốc 1.500.000.000 đồng quá trình vay đã trả tính đến hết ngày 25/12/2020 là 1.131.636.966 đồng; nợ gốc: 1.050.000.000 đồng; lãi quá hạn: 77.210.959 đồng; lãi phạt: 4.426.007 đồng.

Khoản vay 2: Hợp đồng cho vay số 20.26.0002.2/2020/HĐCVHM/NHCT262 ngày 15/01/2020:

Quá trình vay đã trả tính đến hết ngày 25/12/2020 là 1.715.769.748 đồng; nợ gốc: 1.470.000.000 đồng; lãi quá hạn: 169.948.792 đồng; lãi phạt: 75.820.956 đồng.

Tổng cả hai khoản vay là 2.847.406.712 đồng bao gồm cả gốc và lãi. Trƣờng hợp anh Đoạt, chị Thùy không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng, thì đề nghị phát mại tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản …………..giữa vợ chồng tôi với Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.

Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là ………………

Bị đơn anh Đoạt vắng mặt nhƣng ……….: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúctrình bày: Ông đã biết việc Tòa án thụ lý vụ án và việc Ngân hàng TMCP công thƣơng chi nhánh Bình xuyên khởi kiện yêu cầu vợ chông ông thanh toán khoản nợ vay của Ngân hàng. Vợ chồng ông có ký hợp đồng vay nợ và hợp đồng thế chấp tài sản để vay tiền của Ngân hàng TMCP công thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Xuyên và đến nay chƣa thanh toán đƣợc nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng là đúng nên Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông yêu cầu vợ chồng ông trả nợ là đúng ông không có thắc mắc gì.

Về số hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp tài sản và ngày tháng ký hợp đồng ông không nhớ. Việc vợ chồng ông ký hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hiện ông đang quản lý sử dụng toàn bộ tài sản thế chấp.

Nay Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông thanh toán trả tổng số tiền nợ cả gốc và lãi số tiền lãi tính đến ngày 16 tháng 10 năm 2020 là 3.047.584.897đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 17 tháng 10 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc ông đồng ý nhƣng hiện nay kinh tế đang khó khăn do dịch bệnh nên chƣa có tiền để trả ngay cho Ngân hàng đƣợc, ông đề nghị cho ông đƣợc trả dần số nợ, thời gian trả nợ ông chƣa xác định đƣợc.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại 02 tài sản thế chấp ông không đồng ý.

Tại Biên bản làm việc ngày….. chị thùy trình bày và xác nhận vợ chồng chị có ký hợp đồng và thế chấp tài sản để vay vốn Ngân hàng và đã trả đƣợc một phần số nợ nhƣ Ngân hàng khởi kiện là đúng, chị không bổ sung gì. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng tôi phải thanh toán số tiền 2.847.406.714 đồng, cụ thể nhƣ sau:

Khoản vay 1: Hợp đồng cho vay số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 30/08/2018:

Số tiền gốc 1.500.000.000 đồng quá trình vay đã trả tính đến hết ngày 25/12/2020 là 1.131.636.966 đồng; nợ gốc: 1.050.000.000 đồng; lãi quá hạn: 77.210.959 đồng; lãi phạt: 4.426.007 đồng.

Khoản vay 2: Hợp đồng cho vay số 20.26.0002.2/2020/HĐCVHM/NHCT262 ngày 15/01/2020:

Quá trình vay đã trả tính đến hết ngày 25/12/2020 là 1.715.769.748 đồng; nợ gốc: 1.470.000.000 đồng; lãi quá hạn: 169.948.792 đồng; lãi phạt: 75.820.956 đồng.

Tổng cả hai khoản vay là 2.847.406.712 đồng bao gồm cả gốc và lãi.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng tôi thanh toán trả tổng số tiền nợ cả gốc và lãi số tiền lãi tính đến ngày 24/12/2020 là 2.847.406.712 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 25/12/2020 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc tôi đồng ý nhƣng hiện nay kinh tế đang khó khăn do dịch bệnh nên chƣa có tiền để trả ngay cho Ngân hàng đƣợc, tôi đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng tôi đƣợc trả dần số nợ, thời gian trả nợ tôi chƣa xác định đƣợc.

Trƣờng hợp vợ chồng tôi không trả đƣợc nợ cho Ngân hàng, tôi đồng ý phát mại tài sản theo theo Hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng tôi với Ngân hàng để Ngân hàng thu hồi nợ.

Bị đơn trong vụ án đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đƣợc.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quan điểm nhƣ sau:

Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của ngƣời tiến hành tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn và ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Chúc, bà Yến chƣa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình do Bộ luật tố tụng dân sự quy định nhƣ không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, thông báo của Tòa án.

Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.

Về đƣờng lối giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 290, 342, 355, 471, 474, 476, 715, 720, 721 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là ………….

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam khởi kiện yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả tiền vay từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết mục đích vay để sửa chữa nhà và kinh doanh Karaoke nên đây là vụ án kinh doanh thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong thời hạn giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập và gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để bị đơn đến Tòa án làm việc nhƣng bị đơn đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải liên quan đến phần trả nợ và tài sản thế chấp đƣợc.

Bị đơn chị Thùy vắng mặt tại phiên tòa nhƣng chị có đơn đề nghị tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt chị nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Thùy theo quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Đoạt đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 28 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 đƣợc ký kết giữa Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Bình Xuyên (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Tạ Văn Đ và bà Lƣu Thị Th đƣợc giao kết đúng quy định của pháp luật. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.953.234.939 đồng(Trong đó nợ gốc 2.520.000.000 đồngvà tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng, tính đến ngày 02 tháng 4 năm 2021) và yêu cầu tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ. TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy thừa nhận khoản tiền nợ mà Ngân hàng yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy trả nợ nhƣng hiện chƣa có tiền trả ngay cho Ngân hàng nên xin đƣợc trả dần số tiền nợ nhƣng chƣa xác định đƣợc thời gian trả nợ nhƣng không đƣợc Ngân hàng đồng ý. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 2.953.234.939 đồng(Trong đó nợ gốc 2.520.000.000 đồngvà tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là 433.234.939 đồng, tính đến ngày 02 tháng 4 năm 2021) và tiếp tục trả tiền lãi của số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 28 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020 .

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Hội đồng xét xử thấy:

Theo các tài liệu mà Ngân hàng nộp tại Tòa án cũng nhƣ lời trình bày của các đƣơng sự thì ngày 16 tháng 01 năm 2014 bà Lƣu Thị Th và ông Tạ Văn Đ ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.2/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 18.26.0090.1/2018/HĐBĐ/NHCT262 ngày 29/08/2018 cùng phụ lục của hợp đồng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay của Ngân hàng. Bà Thùy khẳng định khi ký hợp đồng thế chấp cùng phụ lục của hợp đồng để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất cùng các tài sản đƣợc xây dựng trên đất để đảm bảo cho các khoản vay của TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy tại Ngân hàng đều tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Nhƣ vậy có đủ cơ sở để khẳng định vợ chồng bà Thùy và TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcđã dùng toàn bộ khối tài sản của mình là Quyền sử dụng 180 m2 đất (Trong đó có 130 m2 đất ở, 50m2 đất cơ sở sản xuất, kinh doanh; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; thời gian sử dụng: Đất ở lâu dài, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh lâu dài.; thuộc tờ bản đồ số QH TĐC Trại Cúp, thửa đất số 07-a, Nguồn gốc sử dụng: Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhận chuyển nhƣợng.; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 509931, Số vào sổ cấp GCN CH 00422 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 12/07/2011, đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

01 Quyền sử dụng đất diện tích 150 m2, loại đất: đất thƣơng mại, dịch vụ; hình thức sử dụng: riêng 150 m2; thời gian sử dụng: Lâu dài ; thuộc tờ bản đồ số QH, thửa đất số 128B, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 372069, Số vào sổ cấp GCN CH 01224 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 21/01/2015, đứng tên Bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để đảm bảo cho các khoản vay khoản vay tại Ngân hàng. Tại mục b của điểm 2.4 của hợp đồng thế chấp tài sản bà thùy và TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúccam kết mọi tài sản gắn liền với thửa đất trước và trong quá trình sử lý tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp và bên nhận thế chấp được quyền xử lý, cho dù tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký hợp đồng này cho dù tài sản đó do bên thế chấp đầu tư, cải tạo, xây dựng thêm hay cho phếp bên thứ ba đầu tư xây dựng thêm” . Tất cả các tài sản xây dựng trên diện tích thửa đất hiện tại và sau ngày ký hợp đồng đảm bảo tiền vay đều thuộc tài sản thế chấp đảm bảo nợ vay Ngân hàng. Sau khi các bên ký hợp đồng thế chấp, hợp đồng vay Ngân hàng đã cho TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy vay tổng số tiền ………………..đồng. Quá trình vay TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy mới trả lãi cho ngân hàng tính đến ngày ….. tháng ….. năm 2020. Nay Ngân hàng yêu cầu TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcbà Thùy thanh toán trả Ngân hàng tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.953.243.939 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 2.520.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn là …………….. đồng và yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh tính trên số dƣ nợ gốc cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận. Trƣờng hợp bà Hồng không trả đƣợc số nợ trên cho Ngân hàng thì toàn bộ tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của hộ ông Đoạt, bà Thùy sẽ đƣợc xử lý để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của Bộ luật dân sự và các điều khoản của hợp đồng thế chấp trên nghĩa vụ đƣợc đảm bảo.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cùng với chính quyền địa phƣơng đến tại thửa đất số thửa đất số 07-a, khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để tiến hành thẩm định tài sản nhƣng TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúckhông đồng ý cho thẩm định tài sản và đóng cửa nhà nên không thể tiến hành thẩm định cụ thể đối với phần tài sản thế chấp tại Ngân hàng đƣợc nên khi xử lý đối với tài sản thế chấp Cơ quan thi hành án căn cứ vào số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm Thi hành án để kê biên đối với tài sản.

[3] Về án phí: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm nên đƣợc hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng có nộp chi phí cho việc thẩm định nhƣng Ngân hàng xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 317, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy trả cho Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 2.953.243.939 đồng (Trong đó nợ gốc 2.520.000.000đồng và tiền lãi trong hạn + tiền lãi phạt quá hạn là …………………………….đồng). TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm của số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay số: 18.26.0090.2/2018-HĐCV/NHCT262 ngày 28 tháng 8 năm 2018 và Hợp đồng cho vay số: 20.26.0002/2020-HĐCVHM/NHCT262 ngày 15 tháng 01 năm 2020

Trƣờng hợp TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên thì Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam có quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ; tài sản cụ thể nhƣ sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 180 m2 đất (Trong đó có 130 m2 đất ở, 50m2 đất cơ sở sản xuất, kinh doanh; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng; thời gian sử dụng: Đất ở lâu dài, đất cơ sở sản xuất, kinh doanh lâu dài.; thuộc tờ bản đồ số QH TĐC Trại Cúp, thửa đất số 07-a, Nguồn gốc sử dụng: Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhận chuyển nhƣợng.; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 509931, Số vào sổ cấp GCN CH 00422 do UBND huyện Bình Xuyên cấp ngày 12/07/2011, đứng tên bà Lƣu Thị Th cùng tài sản gắn liền với đất ở khu Trại Cúp, thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản ........................để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Đình chỉ đối với……………………………….

Về án phí: TDP Tr, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúcvà bà Thùy phải chịu …………………………. án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm; hoàn trả Ngân hàng 56.000.000đồng (Năm mƣơi sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số /2017/0009881 ngày 21 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên.

Đƣơng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Bình Xuyên;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌ PHIÊN TÒA

- Chi cục TH DS huyện Bình Xuyên;

- Các đƣơng sự;

- Lƣu HS, VP.

Phùng Thị Tố Uyên

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT

NAM

HUYỆN BÌNH XUYÊN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 03/2019/KDTM-ST

Ngày 22 tháng 11 năm 2019

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp” NHÂN DANH NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phùng Thị Tố Uyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Thái 2. Bà Lê Thị Bích Thuần Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà

- Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên. Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm thụ lý số: 06/2019/TLST - KDTM ngày 29 tháng 3 năm 2019 “V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp” theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXX - ST ngày 29 tháng 8 năm 2019, giữa các đƣơng sự: 1, Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Địa chỉ: Số 02 Láng Hạ, phƣờng Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngƣời đại diện: Ông Đào Nam Dƣơng; Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Xuyên, Vĩnh Phúc II (Theo Giấy ủy quyền số 0104.01/UQT ngày 01 tháng 4 năm 2019) “có mặt”. 2, Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada. Ngƣời đại diện: Ông Lê Văn Luyện - Giám đốc Công ty “có mặt” Trụ sở của Công ty: Khu Kếu, xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ nơi cƣ trú: Đƣờng 23, xã Thanh Lâm, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. 3, Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Bảo, sinh năm 1957 “có mặt”.

- Ông Lê Văn Đạo, sinh năm 1967 “có mặt”.

- nh Lê Văn Thắng, sinh năm 1987 “có mặt”.

- Ông Lê Văn Thƣờng, sinh năm 1962 “vắng mặt”.

- Bà Quảng Thị Lan, sinh năm 1963 “vắng mặt”.

- Chị Nguyễn Thị Thanh Huyền, sinh năm 1988 “vắng mặt”.

- Bà Nguyễn Thị Thao, sinh năm 1971 “vắng mặt”.

- nh Lê Văn Duy, sinh năm 1994 “vắng mặt”.

- Bà Lê Thị Bảo, sinh năm 1957 “vắng mặt”.

- Ông Lê Văn Hùng, sinh năm 1977 “vắng mặt”.

- Ông Lê Văn Chung, sinh năm 1979 “vắng mặt”.

- Bà Nguyễn Thị Hƣơng, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

- Bà Lê Thị Đƣợc, sinh năm 1944 “vắng mặt”.

- Bà Lê Thị Huấn, sinh năm 1969 “vắng mặt”.

- Ông Lê Văn Phán, sinh năm 1950 “vắng mặt”.

- Ông Lê Văn Thành, sinh năm 1987 “vắng mặt”.

- Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1976 “vắng mặt”.

- Bà Khổng Thị Nhƣ Trang, sinh năm 1987 “vắng mặt”. Đều có địa chỉ: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. NỘI DUNG VỤ ÁN: Trong đơn khởi kiện ghi ngày 01 tháng 4 năm 2019 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 17 tháng 05 năm 2012 giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH gia công TM và DV Vinada sau đó đổi tên là Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Mã số 2500301295) đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 29 tháng 11 năm 2012 (Gọi tắt là Công ty) đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 2012.28010010/HĐTD 17 tháng 5 năm 2012 và phụ lục Hợp đồng tín dụng số: 2012.28010010/PLHĐ ngày 06 tháng 12 năm 2012. Theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã cho Công ty vay tổng số tiền là: 1.900.000.000 đồng; thời hạn vay: 12 tháng; lãi suất tại thời điểm cho vay là: 18%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; mục đích vay: Chi trả lƣơng công nhân, mua nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí khác gia công hàng may mặc trong nƣớc và xuất khẩu. Để đảm bảo cho khoản vay trên Công ty và các chủ sở hữu tài sản đã thế chấp tài sản, cụ thể: + Ngày 16 tháng 05 năm 2012, giữa Ngân hàng, Công ty và gia đình bà Lê Thị Đƣợc đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.01/HĐTC (phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.01/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) thế chấp tài sản là quyền sử dụng 582m2 đất (trong đó: 287m2 đất thổ cƣ + 295m2 đất vƣờn), thửa đất số 86 + 90; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512911 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Đàm (đã chết); địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mƣơi triệu đồng). + Ngày 16 tháng 05 năm 2012, giữa Ngân hàng, Công ty và gia đình ông Lê Văn Thƣờng, bà Quảng Thị Lan đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.02/HĐTC (phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) thế chấp tài sản là quyền sử dụng 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 360.000.000đồng (Ba trăm sáu mƣơi triệu đồng). + Ngày 16 tháng 05 năm 2012, giữa Ngân hàng, Công ty và gia đình ông Lê Văn Đạo, bà Nguyễn Thị Thao đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.03/HĐTC thế chấp tài sản là quyền sử dụng 210m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B974008 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 30 tháng 3 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Đạo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 390.000.000đồng (Hai trăm chín mƣơi triệu đồng). + Ngày 16 tháng 05 năm 2012, giữa Ngân hàng, Công ty và ông Lê Văn Chung đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.04/HĐTC (phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.04/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) thế chấp tài sản là quyền sử dụng 224m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 103; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P469193 do UBND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10 tháng 08 năm 2009 đứng tên ông Lê Văn Chung; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 235.000.000đồng (Hai trăm ba mƣơi lăm triệu đồng). + Ngày 16 tháng 05 năm 2012 giữa Ngân hàng, Công ty và gia đình bà Lê Thị Bảo đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.05/HĐTC (phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) thế chấp tài sản là quyền sử dụng 193m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 102; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512923 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên bà Lê Thị Bảo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 220.000.000đồng (Hai trăm hai mƣơi triệu đồng). + Ngày 16 tháng 05 năm 2012, giữa Ngân hàng, Công ty và ông Lê Văn Phán đã ký Hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.06/HĐTC (phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.06/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) thế chấp tài sản là quyền sử dụng 391m2 đất (trong đó: 236m2 đất thổ cƣ + 155m2 đất vƣờn), thửa đất số 88 + 89; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512913 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Phán; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản đƣợc xây dựng gắn liền với đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 235.000.000đồng (Hai trăm ba mƣơi lăm triệu đồng). Việc các bên vay vốn, thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay là tự nguyện, đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Sau khi vay vốn Công ty mới trả đƣợc

cho

Ngân

hàng 130.000.000đồng tiền nợ gốc; ngày 11 tháng 11 năm 2019 Công ty trả 150.000.000đồng tiền nợ gốc (do bà Lê Thị Bảo nộp tiền tại Ngân hàng) và tiền lãi trả đến ngày 29 tháng 12 năm 2012 sau đó không trả nữa, ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay thành nợ quá hạn. Tính đến nay Công ty còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng). Ngân hàng yêu cầu Công ty phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi của số nợ gốc kể từ ngày 23 tháng 11 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trƣờng hợp Công ty không trả đƣợc số nợ trên thì đề nghị xử lý, bán phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của các hợp đồng thế chấp sau:

- Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số 2012.28010010.02/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 (phụ lục hợp đồng thế

chấp

số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) ký kết giữa Ngân hàng với Công ty và ông Lê Văn Thƣờng, bà Quảng Thị Lan để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 360.000.000đồng.

- Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số 2012.28010010.03/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 (phụ lục hợp đồng thế

chấp

số: 2012.28010010.03/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Văn Đạo và bà Nguyễn Thị Thao để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 290.000.000đồng.

- Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số 2012.28010010.05/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 (phụ lục hợp đồng thế

chấp

số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012) ký kết giữa Ngân hàng với hộ gia đình bà Lê Thị Bảo để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 220.000.000đồng nhƣng ngày 11 tháng 11 năm 2019 bà Bảo đã tự nguyện nộp 150.000.000đồng để trả nợ cho Công ty nên Ngân hàng chỉ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay với số tiền là 70.000.000đồng. Nếu Công ty và các hộ gia đình tự nguyện trả khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình. Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết xử lý đối với các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp sau: Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.01/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.01/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Đàm).

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.04/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.04/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Chung).

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.06/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.06/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Phán). Bị đơn: Ngƣời đại diện của Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada (Gọi tắt là Công ty) là ông Lê Văn Luyện giám đốc Công ty trình bày và xác nhận: Công ty có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Bình Xuyên (Gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty cùng các hộ gia đình nhƣ bà Lê Thị Đƣợc, ông Lê Văn Thƣờng, bà Quảng Thị Lan, ông Lê Văn Đạo, bà Nguyễn Thị Thao, bà Lê Thị Bảo, ông Lê Văn Chung và ông Lê Văn Phán ký hợp đồng thế chấp tài sản để Công ty vay vốn tại Ngân hàng với tổng

số

tiền

gốc

là 1.900.000.000đồng; sau đó trả đƣợc 280.000.000đồng tiền nợ gốc. Số tiền nợ gốc Công ty còn nợ Ngân hàng là 1.620.000.000đồng và tiền lãi phát sinh sau khi vay vốn chƣa trả nhƣ Ngân hàng khởi kiện và trình bày là đúng, Công ty không bổ sung gì và cũng không có thắc mắc gì. Việc Công ty vay vốn Ngân hàng và các hộ thế chấp tài sản để Công ty vay vốn là hoàn toàn tự nguyện. Nay Ngân hàng yêu cầu Công ty phải trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền là: 4.287.741.041đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng) Công ty thừa nhận việc Ngân hàng yêu cầu Công ty trả nợ tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng là đúng, Công ty không có thắc mắc gì, Công ty đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhƣng vì hiện nay Công ty đang ngừng hoạt động, gặp khó khăn về tài chính nên chƣa có tiền trả ngay cho Ngân hàng đƣợc. Công ty đề nghị Ngân hàng cho Công ty trả dần số nợ gốc, còn nợ lãi đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện miễn cho Công ty toàn bộ số tiền lãi. Ngân hàng chỉ yêu cầu xử lý 03 tài sản thế chấp của gia đình bà Bảo, gia đình ông Thƣờng và gia đình ông Đạo Công ty đồng ý. Công ty đề nghị Ngân hàng cho Công ty và các hộ có tài sản thế chấp cùng nhau trả nợ số tiền nợ gốc khi đảm bảo để vay vốn cho Ngân hàng. Sau khi trả tiền đề nghị Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình. Nếu không trả đƣợc nợ theo nhƣ đã cam kết thì đồng ý để Ngân hàng bán phát mại các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của các hộ gia đình để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Lê Thị Bảo trình bày và xác nhận: Việc gia đình bà có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 193 m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 102; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A512923 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên Lê Thị Bảo ở Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc cùng các tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH Một thành viên TM và DV Vinada nhƣ đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty trình bày là đúng. Việc bà và các con bà thế chấp tài sản để Công ty vay vốn Ngân hàng là tự nguyện không bị ai ép buộc. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, bà đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ. Ngân hàng đồng ý cho Công ty và gia đình bà trả số tiền 220.000.000đồng, bà đồng ý cùng Công ty trả nợ cho Ngân hàng để lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về; ngày 11 tháng 11 năm 2019 bà đã

nộp

tại

Ngân

hàng 150.000.000đồng để trả nợ cho Công Ty, số tiền còn lại 70.000.000đồng gia đình bà và Công ty sẽ trả nốt cho Ngân hàng. Sau khi trả hết số tiền 70.000.000đồng bà đề nghị Ngân hàng trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà. Trƣờng hợp bà và Công ty không trả cho Ngân hàng đƣợc số tiền còn lại là 70.000.000đồng, gia đình bà đồng ý để Ngân hàng bán phát mại tài sản và thu hồi nợ. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị Thao vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong quá trình làm việc tại Tòa án bà Thao trình bày và xác nhận: Việc gia đình bà có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 210m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B974008, cấp ngày 30 tháng 3 năm 1999 đứng tên ông Lê Văn Đạo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty nhƣ đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty trình bày là đúng. Việc gia đình bà thế chấp tài sản để Công ty vay vốn Ngân hàng là tự nguyện không bị ai ép buộc. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, bà đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ. Nay Ngân hàng đồng ý cho Công ty và gia đình bà trả số tiền 290.000.000đồng, bà đồng ý cùng Công ty trả nợ cho Ngân hàng. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Lê Văn Đạo trình bày và xác nhận: Việc gia đình ông có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 210m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B974008 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 30 tháng 3 năm 1999 đứng tên Lê Văn Đạo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty nhƣ đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty trình bày là đúng. Việc gia đình ông thế chấp tài sản để Công ty vay vốn Ngân hàng là tự nguyện không bị ai ép buộc. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, ông đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ. Ngân hàng đồng ý cho Công ty và gia đình ông trả số tiền 290.000.000đồng, ông đồng ý cùng Công ty trả nợ cho Ngân hàng. Sau khi trả hết số tiền 290.000.000đồng ông đề nghị Ngân hàng trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông. Trƣờng hợp ông và Công ty không trả cho Ngân hàng đƣợc số tiền 290.000.000đồng, gia đình ông đồng ý để Ngân hàng bán phát mại tài sản và thu hồi nợ. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Lê Văn Thƣờng vắng mặt tại phiên tòa nhƣng tại biên bản lấy lời khai ngày 13 tháng 8 năm 2019 ông Thƣờng trình bày: Gia đình ông có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138, cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay 360.000.000đồng nợ gốc là tự nguyện. Ông xác nhận chữ ký trong hợp đồng thế chấp dúng chữ ký của ông và các thành viên trong gia đình ông. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, ông đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ gốc còn nợ lãi ông mong Ngân hàng giảm một phần cho Công ty. Trƣờng hợp công ty không trả đƣợc nợ ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vụ án vắng mặt ông. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Quảng Thị Lan vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong quá trình làm việc tại Tòa án bà Lan trình bày và xác nhận: Gia đình bà có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty nhƣ đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty trình bày là đúng. Việc gia đình bà thế chấp tài sản để Công ty vay vốn Ngân hàng là tự nguyện không bị ai ép buộc. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, bà đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ. Nay Ngân hàng đồng ý cho Công ty và gia đình bà trả số tiền 360.000.000đồng, bà đồng ý cùng Công ty trả nợ cho Ngân hàng. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án anh Lê Văn Thắng trình bày và xác nhận: nh là con trai của của ông Lê Văn Thƣờng và bà Quảng Thị Lan, gia đình anh có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty nhƣ đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty trình bày là đúng. Việc gia đình anh thế chấp tài sản để Công ty vay vốn Ngân hàng là tự nguyện không bị ai ép buộc. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ, anh đề nghị Ngân hàng cho Công ty đƣợc trả dần số tiền nợ. Nay Ngân hàng đồng ý cho Công ty và gia đình anh trả số tiền 360.000.000đồng, gia đình anh đồng ý cùng Công ty trả nợ cho Ngân hàng. Sau khi trả hết số tiền 360.000.000đồng anh đề nghị Ngân hàng trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh. Trƣờng hợp gia đình anh và Công ty không trả cho Ngân hàng đƣợc số tiền 360.000.000đồng, gia đình anh đồng ý để Ngân hàng bán phát mại tài sản và thu hồi nợ. Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên khác trong vụ án đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của đƣơng sự cũng nhƣ không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quan điểm nhƣ sau: Về việc tuân theo pháp luật Tố tụng dân sự của ngƣời tiến hành tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những ngƣời tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có. Về đƣờng lối giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 290, 342, 355, 471, 474, 476, 715, 720, 721 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân

sự;

Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng (Trong

đó:

Nợ

gốc

là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và

lãi

quá

hạn

là 2.667.741.041đồng). Công ty TNHH Một thành viên TM và DV Vinada phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm của số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 2012.28010010/HĐTD ngày 17 tháng 05 năm 2012 và phụ lục hợp đồng

tín

dụng

số: 2012.28010010/PLHĐ ngày 06 tháng 12 năm 2012. Trƣờng hợp Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ; các tài sản cụ thể nhƣ sau:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.02/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 360.000.000đồng (Ba trăm sáu mƣơi triệu đồng). Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 210m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B974008 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 30 tháng 3 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Đạo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.03/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.03/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 290.000.000đồng (Hai trăm chín mƣơi triệu đồng). Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 193m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 102; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512923 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên bà Lê Thị Bảo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.05/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với số tiền là 70.000.000đồng (Bảy hai mƣơi triệu đồng).

Sau khi Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada hoặc các hộ gia đình có tài sản thế chấp thanh toán xong khoản nợ tƣơng ứng với từng tài sản thế chấp nêu trên thì Ngân hàng có trách nhiệm trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình có tài sản thế chấp.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về việc xử lý tài sản thế chấp đối với các hợp đồng sau:

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.04/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.04/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Chung).

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.06/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.06/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Phán). Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.01/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 mang tên ông Lê Văn Đàm (đã chết). Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Một thành viên TM và dịch vụ Vinada phải trả tiền vay từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết mục đích vay để chi trả lƣơng công nhân, mua nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí khác gia công hàng may mặc trong nƣớc và xuất khẩu nên đây là vụ án kinh doanh thƣơng mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập và gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến Tòa án làm việc nhƣng những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải liên quan đến phần tài sản thế chấp đƣợc. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án ông Lê Văn Thƣờng vắng mặt tại phiên tòa nhƣng ông có đơn đề nghị tòa án giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt ông nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Thƣờng. Những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vụ án và đƣa vụ án ra xét xử vắng mặt ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng tín dụng số: 2012.28010010/HĐTD ngày 17 tháng 05 năm 2012 và phụ lục Hợp đồng

tín

dụng

số: 2012.28010010/PLHĐ ngày 06 tháng 12 năm 2012 đƣợc ký kết giữa Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Xuyên (gọi tắt là Ngân hàng) với Công ty TNHH Một thành viên TM và DV Vinada (gọi tắt là Công ty) đƣợc giao kết đúng quy định của pháp luật. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng) và yêu cầu tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 23 tháng 11 năm 2019 cho đến khi trả hết số nợ. Công ty thừa nhận khoản tiền nợ mà Ngân hàng yêu cầu Công ty trả nợ với tổng số tiền là 4.287.741.041đồng nhƣng hiện chƣa có tiền trả ngay cho Ngân hàng nên xin đƣợc trả dần số tiền nợ gốc và xin miễn toàn bộ tiền lãi nhƣng không đƣợc Ngân hàng chấp nhận. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 4.287.741.041đồng (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng; nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng) và tiếp tục trả tiền lãi của số nợ gốc kể từ ngày 23 tháng 11 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng

tín

dụng

số: 2012.28010010/HĐTD ngày 17 tháng 05 năm 2012 và phụ lục Hợp đồng

tín

dụng

số: 2012.28010010/PLHĐ ngày 06 tháng 12 năm 2012. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Hội đồng xét xử thấy: Các đƣơng sự đều khẳng định khi ký Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.02/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012; Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.03/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.03/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012; Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.05/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 giữa Ngân hàng, Công ty với gia đình bà Lê Thị Bảo; gia đình ông Lê Văn Thƣờng; gia đình ông Lê Văn Đạo để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất cùng các tài sản đƣợc xây dựng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty, các đƣơng sự có mặt đều khẳng định khi ký hợp đồng các bên đều tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hiện tài sản do các hộ gia đình đang quản lý sử dụng. Khi các gia đình thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty thì các gia đình đã tự nguyện dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khi Công ty không trả đƣợc nợ. Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định việc các bên ký hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là đúng quy định của pháp luật và tài sản thế chấp đã đƣợc đăng ký giao dịch bảo đảm. Chính vì vậy nếu Công ty không trả đƣợc số nợ trên cho Ngân hàng thì toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của gia đình bà Lê Thị Bảo; gia đình ông Lê Văn Thƣờng; gia đình ông Lê Văn Đạo cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên phần đất đã đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Lê Thị Bảo; ông Lê Văn Thƣờng; ông Lê Văn Đạo sẽ đƣợc xử lý để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng và đại diện Công ty thống nhất: Để Công ty cùng các hộ gia đình có tài sản thế chấp trả khoản tiền là nợ gốc mà các hộ đã dùng tài sản của mình đảm bảo cho khoản vay của Công ty cụ thể: Tài sản thế chấp theo hợp đồng số: 2012.28010010.03/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng thế chấp số: 2012.28010010.03/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 đứng tên quyền sử dụng đất là ông Lê Văn Đạo phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 290.000.000đồng; tài sản thế chấp theo

hợp

đồng

số 2012.28010010.02/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 đứng tên quyền sử dụng đất là ông Lê Văn Thƣờng phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 360.000.000đồng; tài sản thế chấp theo

hợp

đồng

số 2012.28010010.05/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 đứng tên quyền sử dụng đất là bà Lê Thị Bảo trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 220.000.000đồng nhƣng ngày 11 tháng 11 năm 2019 gia đình bà Bảo đã nộp tại Ngân hàng 150.000.000đồng để trả nợ cho khoản vay của Công ty nên tài sản đảm bảo đứng tên bà Bảo còn phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 70.000.000đồng. Số tiền nợ còn lại Công ty sẽ có trách nhiện trả nợ cho Ngân hàng. Bà Bảo, ông Đạo và anh Thắng là những ngƣới có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đại diện Công ty đề nghị sau khi trả đƣợc số tiền trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng trả lại ngay Giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ; trƣờng hợp không trả đƣợc số tiền trên thì sẽ tự nguyện giao tài sản cho Ngân hàng để Ngân hàng bán phát mại thu hồi nợ và đƣợc Ngân hàng đồng ý. Xét thấy việc các bên tự thống nhất với nhau về việc thanh toán trả nợ theo khoản tiền các hộ gia đình đảm bảo khi Ngân hàng cho vay vốn là tự nguyện, việc các bên thống nhất không trái với quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhận. Trƣờng hợp Công ty không thanh toán trả nợ cho Ngân hàng theo nhƣ các bên đã thống nhất thì Ngân hàng có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp đứng tên quyền sử dụng đất là bà Lê Thị Bảo; ông Lê Văn Thƣờng; ông Lê Văn Đạo để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng nhƣ quy định của Điều 355 Bộ luật dân sự năm 2005 và các điều khoản của hợp đồng thế chấp trên nghĩa vụ đƣợc đảm bảo. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cùng với chính quyền địa phƣơng đến tại thửa đất số thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng và thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05 đứng tên ông Lê Văn Đạo ở thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc để tiến hành thẩm định tài sản nhƣng gia đình ông Đạo và gia đình ông Thƣờng không có ai ở nhà, nhà khóa cổng nên không vào trong để tiến hành thẩm định cụ thể đối với phần tài sản thế chấp tại Ngân hàng đƣợc nên khi xử lý đối với tài sản thế chấp Cơ quan thi hành án căn cứ vào số liệu đo đạc thực tế tại thời điểm thi hành án để kê biên đối với tài sản. Còn diện tích đất đứng tên bà Lê Thị Bảo thì xử lý theo diện tích đất đƣợc cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu Tòa án giải quyết xử lý đối với các tài sản thế chấp sau: Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2012.28010010.04/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012, là quyền sử dụng 224m2 đất thổ cƣ cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất tại thửa đất số 103; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P469193 do UBND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 10 tháng 08 năm 2009 đứng tên ông Lê Văn Chung. Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2012.28010010.06/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 là quyền sử 391m2 đất (Trong đó: 236m2 đất thổ cƣ, còn lại là đất vƣờn) cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất tại thuộc thửa đất số 88 + 89; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512913 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú (cũ) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Phán. Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2012.28010010.01/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012, là quyền sử dụng 582m2 đất (trong đó: 287m2 đất thổ cƣ, còn lại là đất vƣờn) cùng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất tại thửa đất số 86 + 90; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512911 Do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú (cũ) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Đàm (đã chết). Xét xử thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện không trái với quy định của pháp luật nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu là không yêu cầu xử lý đối với 03 tài sản nêu trên. [3] Về án phí: Công ty TNHH Một thành viên TM và DV Vinada phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm nên đƣợc hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. [4] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng có yêu cầu thẩm định tài sản, Ngân hàng đã nộp chi phí cho việc thẩm định nhƣng Ngân hàng xin tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Về quyền kháng cáo: Các đƣơng sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 290, 342, 355, 471, 474, 476, 715, 720, 721 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tổng số tiền nợ cả gốc và lãi là 4.287.741.041đồng (Bốn tỷ hai trăm tám mƣơi bảy triệu bảy trăm bốn mƣơi mốt nghìn không trăm bốn mƣơi mốt đồng) (Trong đó: Nợ gốc là 1.620.000.000đồng (Một tỷ sáu trăm hai mƣơi triệu đồng); nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 2.667.741.041đồng (Hai tỷ sáu trăm sáu mƣơi bảy triệu bảy trăm bốn mƣơi mốt nghìn không trăm bốn mƣơi mốt đồng)). Công ty TNHH Một thành viên TM và DV Vinada phải tiếp tục trả tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm của số dƣ nợ gốc chƣa thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng

tín

dụng

số 2012.28010010/HĐTD ngày 17 tháng 05 năm 2012 và phụ lục hợp đồng tín dụng số: 2012.28010010/PLHĐ ngày 06 tháng 12 năm 2012. Trƣờng hợp Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada không thanh toán đƣợc toàn bộ số nợ trên thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ; các tài sản cụ thể nhƣ sau:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 200m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 203; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C353138 do UBND huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Thƣờng; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.02/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.02/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 360.000.000đồng (Ba trăm sáu mƣơi triệu đồng). Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 210m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 201; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B974008 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 30 tháng 3 năm 1993 đứng tên ông Lê Văn Đạo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.03/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.03/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc khi dùng tài sản để đảm bảo cho khoản vay của Công ty là 290.000.000đồng (Hai trăm chín mƣơi triệu đồng). Việc xử lý tài sản thế chấp theo số liệu đo đạc thực tế mà Cơ quan Thi hành án kê biên tại thời điểm thi hành án.

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích 193m2 đất thổ cƣ, thửa đất số 102; tờ bản đồ số 05, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 512923 do UBND huyện Vĩnh Lạc tỉnh Vĩnh Phú cũ (nay là huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) cấp ngày 05 tháng 05 năm 1993 đứng tên bà Lê Thị Bảo; địa chỉ thửa đất: Thôn Trung Nha, xã Hồng Phƣơng, huyện Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 3 số: 2012.28010010.05/HĐTC ngày 16 tháng 5 năm 2012 cùng phụ lục hợp đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.05/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng với số tiền là 70.000.000đồng (Bảy hai mƣơi triệu đồng).

Sau khi Công ty TNHH một thành viên TM và DV Vinada hoặc các hộ gia đình có tài sản thế chấp thanh toán xong khoản nợ tƣơng ứng với từng tài sản thế chấp nêu trên thì Ngân hàng có trách nhiệm trả ngay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình có tài sản thế chấp.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về việc xử lý tài sản thế chấp đối với các hợp đồng sau:

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.04/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.04/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Chung).

Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.06/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 cùng phụ lục hợp

đồng

thế

chấp

số: 2012.28010010.06/PLHĐTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 (tài sản mang tên ông Lê Văn Phán). Hợp đồng thế chấp tài sản của bên

thứ

3

số: 2012.28010010.01/HĐTC ngày 16 tháng 05 năm 2012 mang tên ông Lê Văn Đàm (đã chết). Về án phí: Công ty TNHH một thành viên TM và dịch vụ Vinada phải chịu 46.287.000đồng (Bốn mƣơi sáu triệu hai trăm tám mƣơi bảy nghìn đồng) án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm; hoàn trả Ngân hàng 56.150.000đồng (Năm mƣơi sáu triệu một trăm năm mƣơi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số /2017/0003431 ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên. Đƣơng sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đƣơng sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ