- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình Trường - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HSST Ngày 12/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang Dung - Thư ký Tòa án.
- Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn H1g - Kiểm sát viên.
Vào hội 07 giờ 30 phút, ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại Hội T xét xử TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn số 03/2020/QĐ-TA, ngày 31/12/2020 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Đặng Đình T, Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 03/11/1974; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Thạch T, TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12. Con ông Đặng Đình T1 (đã mất) và bà Võ Thị T, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Có 02 con, (sinh 2001 và 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2020 đến 14/12/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị H1, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn N, xã Thạch T, TP. Hà Tĩnh tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do muốn mua pháo về sử dụng trong dịp lễ Giáng sinh và tết nguyên đán Tân Sửu 2021 nên vào khoảng đầu tháng 12/2020, Đặng Đình T đã đến một quán internet trên địa bàn Thành phố Hlập tài khoản Facebook có tên là “Duy Bùi” để lên mạng tìm mua pháo. Qua đó T đã liên lạc được với một người ở huyện H, tỉnh Hà Tĩnh có pháo bán (T không biết người này là ai, địa chỉ cụ thể ở đâu). Trao đổi qua Facebook, T và người này thỏa thuận mua 06 hộp pháo loại 36 quả, với giá 500.000 đồng/hộp và hẹn nhau khoảng 17 giờ, ngày
1
11/12/2020 sẽ đến bến xe Bus ở đường Vũ Quang, thành phố Hđể nhận pháo và thanh toán tiền thông qua nhân viên xe Bus. Sau khi thống nhất xong T xóa tài khoản Facebook đã thiết lập. Đến khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 11/12/2020, Đặng Đình T mượn xe mô tô Wave Alpha màu trắng biển kiểm soát 38N1 - 077.41 của chị Đặng Thị H1 ở xã Thạch T, thành phố H(là em gái T) nói rằng đi giải quyết công việc cá nhân. T điều khiển xe mô tô và mang theo một túi bóng màu đen đi đến điểm dừng bến xe Bus trên đường Vũ Quang để chờ và nhận số pháo nói trên. Theo đó, T đã nhận một thùng các tông màu nâu và chuyển tiền mua 6 hộp pháo 3 triệu đồng cho nhân viên xe bus. Tiếp đó T điều khiển xe chở theo 6 thùng pháo đã mua theo hướng qua cầu Thạch Đồng để đến xã T, huyện H giải quyết công việc. Trên đường đi, T mở thùng cát tông lấy 06 hộp pháo ra cho vào một túi nilông màu đen rồi tiếp tục điều khiển xe môtô 38N1 - 077.41 đi đến tuyến đường ĐT550 thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện H, khi T dừng lại để hút thuốc lá thì bị Công an huyện Thạch Hà phát hiện, bắt quả tang.
Theo kết luận giám định số: 97/GĐP-PC09, ngày 14/12/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh xác định: 06 hộp hình chữ nhật gửi đến giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có tổng khối lượng 8,3kg.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 38N1 - 077.41 đăng ký chủ sở hữu mang tên Đặng Thị H1; 06 hộp pháo nổ có tổng khối lượng 8,14kg (đã lấy mẫu giám định 0,16kg không H1 lại) và 01 chiếc túi nilông màu đen, đã qua sử dụng. Hiện tại chiếc xe mô tô đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà trả lại cho chị Đặng Thị H1. Còn số pháo nói trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà quản lý theo quy định.
Với hành vi trên, tại Quyết định truy tố số 02/QĐ-VKSTH, ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị Tòa án: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 191 BLHS; Điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Đình T từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 16 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Giao bị cáo T cho UBND xã Thạch T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiêu hủy số lượng pháo nổ thu giữ và một bao ny lông màu đen là tang vật của vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn là đúng và không có ý kiến gì tranh luận gì;
2
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc mẹ già, nuôi các con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra huyện Thạch Hà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo thủ tục rút gọn quy định tại chương XXXI Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Vì vậy quyết định và hành vi của cơ quan và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 11/12/2020 tại tuyến đường ĐT550 thuộc địa phận thôn Đ, xã K, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Đặng Đình T đã có hành vi tàng trữ 88,,33 kkgg pphhááoo nnổổ tthhìì bbịị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với một số mặt hàng cấm kinh doanh, cấm sử dụng và lưu hành tại Việt Nam. Trong điều kiện Tết Nguyên đán đang đến gần, tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép pháo nổ ngày càng diễn biến phức tạp, các cơ quan chức năng tập trung tuyên truyền và áp dụng nhiều biện pháp đấu tranh để ngăn chặn, xử lý loại tội phạm này thì hành vi tàng trữ pháo nổ của Đặng Đình T thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Do đó, việc các cơ quan tố tụng huyện Thạch Hà áp dụng thủ tục rút gọn để điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Đặng Đình T là cần thiết, có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc T hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 BLHS;
Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm
3
cho xã hội, không chỉ đi ngược lại quy định của Chính phủ về quản lý và sử dụng pháo nổ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; hành vi của bị cáo cần được xét xử kịp thời, nghiêm minh để bị cáo thấy được lỗi lầm của mình. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo T phạm tội lần đầu thuộc T hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số lượng pháo tàng trữ không lớn (gần mức khởi điểm truy cứu trách nhiệm hình sự)… để từ đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, từng tham gia nghĩa vụ quân sự, có nơi cư trú rõ ràng, H1 cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo, cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 38N1 - 077.41 thuộc sở hữu của chị Đặng Thị H1. Quá trình điều tra xác định được việc bị cáo mượn xe của chị H1 để tàng trữ pháo nỗ chị H1 không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H1 là phù hợp. Đối với số lượng pháo nổ và bao ny lông màu đen (không còn giá trị sử dụng) đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Thạch Hà theo biên bản giao nhận vật chứng được lập ngày 30/12/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà và Chi cục Thi hành án huyện Thạch Hà cần áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 191 BLHS; điểm c, khoản 1 Điều 47, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, các Điều 455, 456, 457, 462, 463 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” .
2. Về hình phạt: Xử bị cáo Đặng Đình T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đặng Đình T cho Uỷ ban nhân dân xã Thạch T, Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong T hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành
4
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. T hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 8,14 kg pháo nổ (khi đã lấy mẫu giám định 0,16 kg, không H1 lại) và 01 bao ni lông màu đen không còn giá trị sử dụng. (Tình trạng, số lượng, đặc điểm các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 30/12/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp Hà Tĩnh; - VKSND huyện Thạch Hà; - Công an huyện Thạch Hà; - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà; - Cơ quan THA HS Công an huyện Thạch Hà; - Lưu hồ sơ Thi hành án hình sự; - UBND xã Thạch T, TP. Hà Tĩnh (để giám sát, giáo dục bị cáo). - Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu Hồ sơ; VT. 5 | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nhân |