- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Anh Lục - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________ Bản án số: 01/2021/HSST Ngày: 05 - 01- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Ngạn và bà Lê Thị Thao.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2020/TLST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2020/HSST- QĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:
C.A.L, sinh năm 1990 tại Hải Dương. ĐKHK và cư trú: Thôn Hảo Hội Xuân, xã Đức Chính, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C.Kh.Kh và bà Đ.Th.M; vợ V.Th.Th (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2010. Gia đình bị cáo có 06 chị em, bị cáo là thứ năm.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (có mặt tại phiên tòa).
*. Bị hại: Anh H.V.D, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Pịt, xã Lương Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+. Chị H.Th.C, sinh năm 1987.
+. Anh H.V.D1, sinh năm 1994.
Đều có địa chỉ: Thôn Pịt, xã Lương Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
+. Anh L.H.A, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu 13, phường Ngọc Châu, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
*. Người làm chứng:
+. Chị Đ.Th.A.T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Xóm Chiềng, xã Kiệt Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
+. Anh N.V.L, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn Tràng, xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
+. Anh H.V.N, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Thôn Nà Vài, xã Tân Nam, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
+. Anh Tr.V.T, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Thôn 8, xã Động Quan, huyện Lạc Yên, tỉnh Yên Bái.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 01/9/2020 anh H.V.D1 tổ chức sinh nhật tại phòng trọ ở thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Đến dự sinh nhật có anh H.V.D (là anh trai của anh H.V.D1) cùng anh N.V.L, anh H.V.N, chị Đ.Th.A.T cùng một số người khác (không rõ địa chỉ). Khoảng 21 giờ cùng ngày anh Tr.V.T, (là bạn của anh H.V.D1) dẫn C.A.L, L.H.A và đối tượng tên Duy (chưa rõ địa chỉ) đến phòng trọ của anh H.V.D1 dự sinh nhật. Qúa trình ăn uống nhóm của H.V.D1 xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với nhóm của L, H.A và Duy. Trong lúc cãi nhau anh H.V.D1 cầm con dao nhưng được anh D và mọi người can ngăn nên hai nhóm ngồi xuống nói chuyện và ăn uống khoảng 05 phút sau thì giải tán. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi anh D và chị T đang đi bộ trong ngõ ở thôn Tiền (cách phòng trọ của anh H.V.D1 khoảng 100m) thì H.A điều khiển xe môtô Wave (không rõ biển kiểm soát) chở L và Duy đến chỗ anh D và chị T rủ đi uống nước nhưng anh D không đi thì H.A dừng xe, dùng tay tát vào mặt anh D, tiếp đó H.A cùng L và Duy dùng tay, chân đánh, đạp vào đầu, bụng anh D làm anh D bị ngất ra đường thì nhóm của L bỏ đi. Sau đó nhóm của L tiếp tục điều khiển xe môtô đuổi theo anh H.V.D1 và T đến khu công nghiệp Đại An, huyện Cẩm Giàng để đánh nhưng không đuổi được nên đi về. Anh D phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương từ ngày 01/9/2020 đến ngày 14/9/2020 thì ra viện.
Ngày 08/9/2020, anh H.V.D có đơn đề nghị cơ quan pháp luật xử lý trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng gây thương tích cho anh.
L.H.A sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng ra Quyết định truy nã. Đến ngày 16/11/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với L.H.A là phù hợp quy định pháp luật.
Ngày 15/12/2020 L.H.A đã tự nguyện ra đầu thú, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và Quyết định phục hồi bị can đối với L.H.A đang giải quyết trong vụ án khác.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 264/TgT ngày 17/9/2020 của Phòng giám định pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương kết luận:
"1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương bụng kín gây rách mạc treo ruột non, cháy máu ổ bụng, đã mổ xử lý khâu cầm máu mạc treo ruột non. Hiện ổng định, để lại 03 sẹo mổ, dẫn lưu kích thước trung bình và nhỏ. Được xác định mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra là: 23%.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm phải kích thước nhỏ. Được xác định mức độ tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra là: 01%;
- Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, anh D bị người khác dùng tay chân đánh vào vùng bụng, ngã gây ra các tổn thương trên là phù hợp.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (hai mươi bốn phần trăm)".
Quá trình điều tra bị cáo và bị hại không có ý kiến thắc mắc gì về kết luận giám định pháp y về thương tích số 264/TgT ngày 17/9/2020 của Phòng giám định pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật. Bị hại đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh L.H.A phải liên đới bồi thường các khoản theo chi phí điều trị khám chữa bệnh, chi phí tổn hại sức khỏe, tinh thần, khoản tiền thu nhập thực tế ngày công lao động bị mất của bị hại, người chăm sóc theo quy định của pháp luật.
Quá trình chuẩn bị xét xử Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng có văn bản bổ sung tài liệu về việc L.H.A đã được cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự , Quyết định phục hồi bị can và các tài liệu khác liên quan đến L.H.A.
Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh L.H.A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường tổng số tiền 45.000.000đồng. Quan điểm của bị cáo và L.H.A (thông qua đơn xét xử vắng mặt) nhất trí đối với phần trách nhiệm hình sự trong vụ án, chia kỷ phần mỗi người phải bồi thường cho bị hại số tiền là 22.500.000đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh H.V.D1, chị H.Th.C (thông qua đơn xin xét xử vắng mặt): Đề nghị HĐXX giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, yêu cầu bị cáo và L.H.A phải bồi thường khoản tiền thu nhập thực tế ngày công lao động bị mất trong thời gian anh, chị chăm sóc anh D tại bệnh viện.
Tại Cáo trạng số 78/VKS - HS ngày 30/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo C.A.L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng thực hành quyền công tố, trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo C.A.L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo C.A.L từ 33 tháng đến 39 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 18/9/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo C.A.L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan L.H.A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại anh H.V.D tổng số tiền 45.000.000đồng (bao gồm chi phí điều trị khám chữa bệnh, chi phí tổn hại sức khỏe, tinh thần, khoản tiền thu nhập thực tế ngày công lao động bị mất của bị hại, người chăm sóc). Cụ thể chia theo kỷ phần: bị cáo C.A.L phải bồi thường số tiền 22.500.000đồng, L.H.A phải bồi thường số tiền 22.500.000đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo C.A.L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.125.000đồng án phí dân sự. L.H.A phải chịu 1.125.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: Bị cáo xác định hành vi mà mình đã gây ra cho người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- L.H.A sau khi phạm tội đã bỏ trốn và đã ra đầu thú, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định phục hồi bị can, Quyết định đình nã. Trong vụ án này HĐXX phải giải quyết trách nhiệm dân sự nên HĐXX đưa L.H.A tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do trước đó có mâu thuẫn cãi nhau trong buổi sinh nhật giữa nhóm của C.A.L và nhóm của H.V.D1, nên khoảng 23 giờ 00phút ngày 01/9/2020 tại thôn Tiền, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương C.A.L, L.H.A và Duy (chưa rõ tên, địa chỉ) đã có hành vi dùng tay, chân đánh, đạp vào đầu, vào bụng anh H.V.D, sinh năm 1992, ở thôn Pịt, xã Lương Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Hậu quả anh D bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 24%.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc dùng tay chân đánh, đạp vào vị trí trọng yếu trên cơ thể là bụng, đầu của người khác sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của họ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước chỉ vì trong quá trình ăn uống xảy ra xô xát cãi nhau. Sau đó hai bên đã giải hòa, vui vẻ và lại ngồi ăn uống với nhau nhưng khi gặp anh D đi ở ngoài đường cùng chị T, bị cáo, L.H.A và một nam thanh niên (không xác định được địa chỉ) đã vô cớ đánh anh D gây thương tích cho anh D Vì vậy hành vi của bị cáo và L.H.A thể hiện “tính chất côn đồ“ theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết định khung tại khoản 1 Điều 134 nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết năng nặng, giảm nhẹ TNHS. HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo và L.H.A (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) phải có trách nhiệm liên đới bồi thường tổng số tiền 45.000.000đồng (bao gồm chi phí điều trị khám chữa bệnh, chi phí tổn hại sức khỏe, tinh thần, khoản tiền thu nhập thực tế ngày công lao động bị mất của bị hại, người chăm sóc bị hại trong thời gian nằm viện điều trị). Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường, L.H.A (thông qua có đơn xin xét xử vắng mặt) cũng nhất trí bồi thường mà bị hại yêu cầu. Xét sự thỏa thuận trên của bị cáo, bị hại và L.H.A là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX ghi nhận. Buộc bị cáo và L.H.A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền trên mỗi người phải bồi thường một nửa.
. Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự và án phí sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật. L.H.A phải chịu án phín dân sự theo quy định pháp luật.
. Các vấn đề khác:
- Đối với hành vi gây thương tích của L.H.A đã được phục hồi điều tra và sẽ được xét xử bằng vụ án khác.
- Đối với đối tượng tên Duy (là bạn của H.A) đã tham gia đánh anh D nhưng chưa xác định được địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo C.A.L phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo C.A.L 38 (ba mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/9/2020.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo C.A.L và L.H.A phải có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền 45.000.000đồng, chia theo kỷ phần bị cáo C.A.L phải bồi thường số tiền 22.500.000đồng, L.H.A phải bồi thường số tiền 22.500.000đồng cho anh H.V.D, sinh năm 1992, địa chỉ Thôn Pịt, xã Lương Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo C.A.L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.125.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và L.H.A phải chịu 1.125.000đồng án phí dân sự.
[4].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - VKSND huyện Cẩm Giàng; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Cẩm Giàng; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan THAHS- Công an huyện Cẩm Giàng; - Chi cục THSDS huyện Cẩm Giàng; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; Văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Vân Hà |