- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Xuân K - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hìn…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HS-ST Ngày: 05-01-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Ngọc Dũng.
2/ Bà Vòng Cảnh Mỹ Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 319/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Xuân K, sinh năm 1956. Tại: Tỉnh VP. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường BC, quận TĐ, Thành phố HCM. Trình độ học vấn: 07/10. Nghề nghiệp: Lái xe; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Văn P và bà Nguyễn Thị M; Vợ tên Hồ Thị u và có 04 người con (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
Bị hại: Cháu Huỳnh Thị Quỳnh Tr, sinh năm 2001 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: xã MĐ, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
Bị đơn dân sự: Công ty TNHH MTV PTT, trụ sở: Số 26/81, khu phố 12, phường HN, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Bà Huỳnh Hoa Trinh K, sinh năm 1966 – Chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm Giám đốc; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Xuân K, sinh năm 1956, cư trú tại số 95, đường Lê Thị Hoa, khu phố 3, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh là người có Giấy phép lái xe hạng D, số 750952001140 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 06/11/2018, có giá trị đến ngày 06/11/2023 và Kiểm là tài xế lái xe ô tô tải hiệu HINO, màu trắng, tải trọng 4.550 kg, biển số 60C-227.66 cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Phát Thanh Tâm, trụ sở đóng tại số 26/81, khu phố 12, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai do bà Huỳnh Hoa Trinh Kiệt, sinh năm 1966, cư trú tại số 26/81, khu phố 12, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai làm Giám đốc.
Huỳnh Thị Quỳnh T, sinh năm 2001, cư trú tại thôn 1, xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng là người không có Giấy phép lái xe hạng A1.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/10/2019, Dương Xuân K điều khiển xe ô tô tải hiệu HINO, biển số 60C-227.66 chở hàng đi từ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên PTT đến giao hàng tại Khu Công nghiệp Đồng An 2, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày 29/10/2019, khi Kiểm điều khiển xe ô tô chạy đến giao lộ đường D2 và đường D1 đoạn thuộc khu phố 4, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo hướng đi từ giao lộ đường D2 và đường Lê Lai về giao lộ đường D2 và đường D3 thì Kiểm bật đèn xi nhan và cho xe chuyển hướng rẽ phải vào đường D1. Do K thiếu chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn khi điều khiển xe chuyển hướng nên đã để mặt ngoài cửa ra vào cabin bên phải và đầu bên phải cản trước xe ô tô va chạm vào đầu ngoài tay cầm bên trái và hông bên trái xe mô tô hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám-đen, biển số 49M1-071.39 do chị Huỳnh Thị Quỳnh T điều khiển đang lưu thông trên đường D2 cùng chiều bên phải theo hướng xe ô tô K lưu thông làm chị T và xe mô tô ngã xuống đường. Sau khi xảy ra tai nạn, chị T bị thương tích nặng nên được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Mỹ Phước, tỉnh Bình Dương. Sau đó, chị T được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương để tiếp tục cấp cứu. Đến ngày 26/11/2019, chị T được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục cấp cứu và điều trị. Tuy nhiên đến ngày 17/12/2019, do thương tích của chị T có tiên lượng xấu không thể cứu chữa khỏi nên gia đình chị T xin Bệnh viện cho đưa chị T về nhà tại thôn 1, xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng để chờ lo hậu sự và chị T chết sau đó cùng ngày tại nhà. Gia đình chị T tổ chức mai táng cho chị T mà không báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một biết để tiến hành khám nghiệm tử thi theo quy định.
* Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 14 giờ 15 phút ngày 29/10/2019 của Đội Cảnh sát Giao thông - Công an thành phố Thủ Dầu Một và Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 09 giờ 20 phút ngày 24/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định như sau:
- Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là giao lộ đường D2 và đường D1, chiều xảy ra tai nạn là chiều đi bên phải của đường D2 theo hướng đi từ đường Lê Lai về đường D3, đoạn thuộc khu phố 4, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Mặt đường D2 được trải nhựa bằng phẳng, được chia làm hai chiều xe chạy bằng vạch kẻ đôi liền nét liên tục ở giữa đường và không phân chia làn đường, mặt đường rộng 16 m. Mặt đường D1 được trải nhựa bằng phẳng, được chia làm hai chiều xe chạy bằng vạch kẻ đôi liền nét liên tục ở giữa đường và không phân chia làn đường, mặt đường rộng 11,6 m.
- Điều kiện thời tiết: Trời nắng sáng.
- Hiện trường được đo vẽ lấy điểm mốc là mép lề phải của đường D2 hướng từ đường Lê Lai về đường D3 làm mép lề chuẩn 1 và lấy mép lề phải của đường D1 hướng từ đường D2 về đường D4 làm mép lề chuẩn 2.
- Dấu vết tại hiện trường:
+ Xe mô tô biển số 49M1-071.39 ngã sang phải và nằm trong giao lộ, đầu xe quay hướng chéo sang mép trái đường D2 hướng từ đường Lê Lai về đường D3 và hướng về đường Lê Lai. Tâm trục bánh trước cách mép phải đường D2 được giới hạn trong giao lộ là 1,5 m. Tâm trục bánh sau cách mép phải đường D2 được giới hạn trong giao lộ là 0,3 m. Xe mô tô ngã để lại vết cày mặt đường dài 10,9 m, điểm bắt đầu vết cày cách mép phải đường D2 được giới hạn trong giao lộ là 0,8 m, điểm kết thúc vết cày trùng với vị trí xe mô tô biển số 49M1-071.39 ngã.
+ Xe ô tô tải biển số 60C-227.66 nằm trên đường D2, đầu xe quay hướng về đường D3 hơi chếch sang phải. Trục bánh trước bên phải cách mép phải đường D2 là 1,5 m, cách mép phải đường D1 theo hướng từ đường D2 về hướng đường D4 được giới hạn trong giao lộ là 1,1 m và cách điểm bắt đầu vết cày của xe mô tô biển số 49M1-071.39 là 2,7 m. Trục bánh sau bên phải cách mép phải đường D2 là 1,9 m.
* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 15 giờ ngày 29/10/2019 của Đội Cảnh sát Giao thông - Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe ô tô biển số 60C-227.66:
- Kim loại đầu cabin phía trước bên phải có dấu trầy xước, có vết sơn màu đen theo chiều từ dưới lên trên, từ trước về sau, từ phải qua trái, kích thước (0,2 x 05) cm.
- Đèn chiếu sáng phía trước bên phải có dấu va chạm làm trầy xước theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, kích thước (02 x 06) cm.
- Kim loại cản phía trước bên phải có dấu va chạm làm trầy xước, dính vết sơn màu đỏ-đen theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, kích thước (07 x 09) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 58 cm.
- Kim loại cửa trước bên phải có dấu va chạm làm trầy xước sơn, móp lõm theo chiều từ trước về sau, từ phải qua trái, kích thước (03 x 14) cm.
* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 29/10/2019 của Đội Cảnh sát Giao thông - Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe mô tô biển số 49M1-071.39:
- Kim loại gù chống đổ tay lái bên trái có dấu va chạm làm trầy xước kim loại theo chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, từ trái qua phải, kích thước (02 x 04) cm.
- Gương chiếu hậu bên trái bị va chạm rơi mất theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
- Kim loại cần sang số có dấu va chạm làm trầy xước kim loại theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, kích thước (02 x 03) cm.
- Kim loại gác chân phía sau bên trái có dấu va chạm làm gãy kim loại theo chiều từ trên xuống dưới, từ sau về trước, từ trái qua phải, kích thước (02 x 06) cm.
- Kim loại bảo vệ xích bị trầy xước do va chạm theo chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, kích thước (03 x 08) cm.
- Gác chân phía trước bên phải bị cong vênh theo chiều từ trước về sau, từ phải qua trái do ngã.
- Cao su cánh bửng phía trước bên phải bị trầy xước, mài mòn do ngã theo chiều từ trước về sau có chiều dài 1,5 cm.
* Căn cứ Kết luận giám định số 21/GĐCH-PC09 ngày 10/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Dương, kết luận như sau:
1. Điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 49M1-071.39 và xe ô tô tải biển số 60C-227.66 là:
1.1 Dấu vết trượt xước sơn màu đen, bám dính màng màu trắng (dạng sơn) ở đầu tay cầm xe mô tô, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám dính màng màu đen (dạng sơn) và hằn lõm ở mặt ngoài cánh cửa phải xe ô tô tải, có chiều từ sau về trước.
1.2. Dấu vết trượt xước sơn màu đỏ-đen, bám dính màng màu trắng (dạng sơn) ở ốp nhựa thân xe bên trái (dưới yên) xe mô tô, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám dính màng màu đỏ (dạng sơn) ở đầu bên phải cản trước xe ô tô, có chiều từ sau về trước.
2. Các dấu vết mài mòn bên phải xe mô tô biển số 49M1-071.39 phù hợp va chạm với mặt đường.
3. Cơ chế hình thành dấu vết giữa hai xe là: Xe mô tô biển số 49M1-071.39 lưu thông trên đường D2 thì va chạm với xe ô tô tải biển số 60C-227.66 lưu thông cùng chiều bên trái (như mục 1, phần V) làm xe mô tô đổ ngã sang phải, va chạm với mặt đường (như mục 1, phần V) tạo ra các dấu vết trên hai phương tiện (bút lục số 32).
* Căn cứ Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 090/GĐHS/2020 ngày 30/3/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận nguyên nhân chết của chị Huỳnh Thị Quỳnh T là do chấn thương sọ não, hậu quả của vụ tai nạn giao thông gây:
- Chấn thương sọ não: Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán phải. Đường giữa lệch trái 09 cm. Hệ thống não thất bên phải bị chèn ép. Theo dõi gãy cung gò má phải/khuyết sọ trán phải do phẫu thuật.
- Chấn thương ngực: Tràn dịch màng phổi hai bên, bên phải lượng nhiều, bên trái lượng ít.
Bệnh nhân đã được phẫu sọ não + dẫn lưu màng phổi phải. Biến chứng viêm phổi nặng (bút lục số 247-248).
Quá trình điều tra, ngày 17/01/2020 ông Nguyễn Hữu Thạo, sinh năm 1957, cư trú tại số E617B, khu phố 5, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên PTT cùng với Dương Xuân K thỏa thuận và bồi thường chi phí điều trị thương tích và chi phí mai táng bị hại Huỳnh Thị Quỳnh T cho cha và mẹ bị hại T là ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979, cùng cư trú tại thôn 1, xã Mỹ Đức, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng với tổng số tiền là 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng. Ông Hiền và bà Loan làm Giấy bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Dương Xuân K.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám-đen, biển số 49M1-071.39, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Loan đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe. Do đó, ngày 06/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã lập biên bản giao trả chiếc xe mô tô trên cùng giấy tờ liên quan cho bà Nguyễn Thị Loan theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 62 ngày 06/02/2020 (bút lục số 316, 319). Đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô trên, ông Hiền và bà Loan xác định do xe chỉ bị hư hỏng nhẹ và chi phí sửa chữa không đáng kể nên ông H và bà L không yêu cầu các Cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Thủ Dầu Một phải định giá thiệt hại tài sản cũng như không yêu cầu Dương Xuân K phải bồi thường chi phí sửa chữa chiếc xe trên.
Đối với xe ô tô tải hiệu HINO, màu trắng, biển số 60C-227.66, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô trên là của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên PTT. Do đó, ngày 06/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã lập biên bản giao trả chiếc xe ô tô trên cho ông Nguyễn Hữu T (là người đại diện theo ủy quyền của Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên PTT) theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 63 ngày 06/02/2020 (bút lục số 317, 318).
Đối với Giấy phép lái xe hạng D, số 750952001140 tên Dương Xuân K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển Giấy phép lái xe trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định trả cho Dương Xuân K.
Cáo trạng số 320/CT-VKS-HS ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Dương Xuân K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị cáo và bị đơn dân sự đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác. Do đó, không đặt ra xem xét giải quyết đối với trách nhiệm dân sự của bị cáo và bị đơn dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo Dương Xuân K 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số 750952001140 tên Dương Xuân K.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 29/10/2019, tại khu vực giao lộ đường D2 và đường D1 đoạn thuộc khu phố 4, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bị cáo Dương Xuân K (là người có giấy phép lái xe theo quy định) có hành vi điều khiển xe ô tô tải hiệu HINO, màu trắng, biển số 60C-227.66 lưu thông nhưng thiếu chú ý quan sát và không đảm bảo an toàn khi chuyển hướng nên đã để xảy ra va chạm với xe mô tô hiệu Honda Wave S, màu đỏ-xám-đen, biển số 49M1-071.39 do bị hại Huỳnh Thị Quỳnh T điều khiển chạy cùng chiều bên phải xe của bị cáo K, dẫn đến hậu quả bị hại T chết; xe mô tô bị hư hỏng nhẹ (nhưng đại diện của gia đình bị hại T từ chối định giá thiệt hại tài sản). Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ và gây hậu quả chết người. Hành vi phạm tội của bị cáo K đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo K đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông phức tạp như hiện nay, là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe của nạn nhân. Do đó, bị cáo cần phải bị xử lý tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng bị đơn dân sự là Công ty TNHH MTV PTT đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị và các thiệt hại khác cho gia đình bị hại số tiền 210.000.000 đồng (trong đó bị cáo bồi thường 50.000.000 đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài ra, bị cáo từng tham gia kháng chiến, làm nghĩa vụ quốc tế phục vụ tại chiến trường Campuchia. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Do vậy, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tự cải tạo thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cho bị cáo được hưởng án treo. Mức hình phạt mà đại diện Viện K sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, theo đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã ăn năn hối cải, lỗi của bị cáo gây ra là lỗi vô ý, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo K và bị đơn dân sự là Công ty TNHH MTV PTT đã bồi thường chi chi phí điều trị, mai táng phí, tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 210.000.000 đồng (trong đó bị cáo K bồi thường 50.000.000 đồng, bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV PTT bồi thường 160.000.000 đồng). Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo và bị đơn dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) mà bị đơn dân sự Công ty TNHH MTV PTT đã cùng bị cáo K bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn dân sự thống nhất tự nguyện chịu số tiền bồi thường nêu trên cho đại diện hợp pháp của bị hại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng: Cần trả lại cho bị cáo Dương Xuân K 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số 750952001140 tên Dương Xuân K.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1/ Tuyên bố bị cáo Dương Xuân K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2/ Xử phạt bị cáo Dương Xuân K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/01/2021).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập xử lý.
4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo Dương Xuân K 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số 750952001140 tên Dương Xuân K.
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 032.21 ngày 19/11/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
5/ Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khương Minh Trí |