vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 27/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày 27-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị An

Bà Lê Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành-Thư ký TAND huyện Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2021/TLST-HS ngày 07/10//2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 13/10/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thăng H, sinh năm 1996; HKTT: Thôn R, xã CH, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thăng H, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/8/2021 đến ngày 28/9/2021 được thay đổi bằng biện pháp “Bảo lĩnh” đến nay - Có mặt.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1973 (vắng mặt)

HKTT: Thôn NX, xã PT, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thăng H1, sinh năm 1974 (có mặt)

HKTT: Thôn R, xã CH, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 09/8/2021, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda dream màu nâu BKS 99H6 - 2664 của gia đình đến quán Internet của ông Trần Hữu Đ ở thôn P, xã PT, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mục đích để chơi điện tử nhưng quán không mở cửa nên H quay xe đi về nhà theo đường tỉnh lộ 276. Khi đi đến đoạn cách ngã tư giao nhau giữa đường 276 và đường làng khoảng 100m thuộc thôn N, xã PT, huyện Tiên Du thì H dừng xe ở rìa đường để nghỉ. Cùng lúc chị Nguyễn Thị O điều khiển xe đạp điện màu đỏ đen đi qua. H quan sát thấy túi quần bên phải của chị O có 01 chiếc ví nữ mầu nâu thò một nửa ra ngoài. Nghĩ trong ví có tiền nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt để lấy tiền chuộc chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 3 đã cầm cố trước đó. Ngay sau đó, H điều khiển xe vượt lên phía bên phải xe của chị O, dùng tay trái nhanh chóng giật lấy chiếc ví rồi tăng ga bỏ chạy. Bất ngờ bị cướp giật tài sản, chị O truy hô “Cướp, Cướp...” và đuổi theo nhưng không kịp. Còn H điều khiển xe bỏ chạy đến khu vực nhà văn hóa thôn Đoài, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du thì dừng xe lại kiểm tra chiếc ví vừa cướp giật được thấy bên trong có: 01 cuốn sổ cũ ghi các thông tin và số tiền 5.000.000 đồng. H lấy hết tiền rồi vứt chiếc ví cùng cuốn sổ bên trong tại đây rồi điều khiển xe đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại của anh Nguyễn Văn Bàng để chuộc chiếc điện thoại OPPO Reno 3 màu tím đen hết 3.020.000 đồng. Sau đó Thăng đi về cửa hàng điện thoại của chị Nguyễn Thị Hải O1 ở cùng thôn mua 01 thẻ điện thoại mệnh giá 100.000 đồng và đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị S ở thôn Trung, xã CH, huyện Tiên Du mua 01 cây thuốc lá Thăng Long trị giá 85.000 đồng rồi về nhà. Số tiền còn lại 1.795.000 đồng H đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 10/8/2021, chị O đã trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du. Đến ngày 13/8/2021, Cơ quan điều tra đã triệu tập được H đến trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra H đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mầu nâu BKS: 99H6 - 2664, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 3 và 01 đôi dép tông mầu vàng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thắng H, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc áo phông cộc tay mầu đen, 01 chiếc quần sooc mầu tím than, 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu đen loại nửa đầu và 01 đăng ký xe mô tô BKS : 99H6 - 2664 mang tên Nguyễn Xuân H2

Với nội dung trên, Cáo trạng số 102/CT-VKS-TD ngày 05/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố bị cáo Nguyễn Thăng H về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thăng khai nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng. Tối ngày 09/8/2021 bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda dream màu nâu BKS 99H6 - 2664 của gia đình đi chơi điện tử. Do cửa quán điện tử đóng nên bị cáo dừng xe ở rìa đường để nghỉ. Lúc này bị cáo thấy chị O đang điều khiển xe đạp điện đi qua nên bị cáo đã điều khiển xe vượt lên phía bên phải xe của chị O, dùng tay trái nhanh chóng giật lấy chiếc ví rồi tăng ga bỏ chạy. Bị cáo lấy trong ví số tiền 5.000.000 đồng rồi vứt chiếc ví cùng cuốn sổ. Bị cáo đã chi tiêu hết số tiền trên.

Bị hại chị O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Tối ngày 09/8/2021 chị điều khiển xe đạp điện đến địa phận thôn Ngô Xá, xã PT thì bị giật mất 01 chiếc ví bên trong có số tiền 5 triệu đồng và cuốn sổ. Đến nay bố bị cáo đã bồi thường cho chị số tiền 5 triệu đồng nên chị không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với chiếc ví giả da và 01 cuốn sổ ghi chép chưa thu hồi được nhưng chị không yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thăng H1 trình bày tại phiên tòa: Ông là bố đẻ bị cáo H. Sau khi biết sự việc ông đã bồi thường cho chị O số tiền 5.000.000 đồng. Ông không có ý kiến gì về số tiền trên. Nguồn gốc chiếc xe mô tô Honda Dream mầu nâu BKS : 99H6-2664 kèm đăng ký xe mang tên Nguyễn Xuân Hòa là của ông mua lại của anh Nguyễn Duy Biên ở cùng thôn vào tháng 02/2021. Khi bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/8/2021 ông không biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 102/CT- VKS-TD ngày 05/10/2021. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Cướp giật tài sản”

2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Giao bị cáo H cho Uỷ ban nhân dân xã CH, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

3. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay mầu đen; 01 chiếc quần sooc; 01 chiếc mũ bảo hiểm và 01 đôi tông mầu vàng đã qua sử dụng;

-Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án,

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội và không tranh luận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 09/8/2021, tại đoạn đường tỉnh lộ 276 (cách khu vực ngã tư giao nhau giữa đường tỉnh lộ 276 và đường làng) thuộc địa phận thôn Ngô Xá, xã PT, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo H đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô BKS: 99H6-2664 áp sát bên phải xe đạp điện do chị Nguyễn Thị O điều khiển đang đi phía trước cùng chiều, rồi dùng tay trái giật 01 chiếc ví bên trong có 5.000.000 đồng của chị O đang đút trong túi quần rồi nhanh chóng bỏ chạy. Bị cáo điều khiển xe mô tô để giật túi xách của bị hại đang điều khiển xe đạp điện nên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi điều khiển xe mô tô giật tài sản của bị hại đi xe đạp điện có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại và người đi đường, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự nên xác định nhân thân tốt. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo xuất trình “Đơn xin xác nhận lập công” có xác nhận của Công an xã CH về việc bị cáo đã cung cấp thông tin để Công an xã bắt giữ đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy. Ông ngoại bị cáo được tặng thưởng H1 chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. HĐXX thấy không cần buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội mà chỉ lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.

[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

[5]Trách nhiệm dân sự: Chị O đã được ông Nguyễn Thăng H1 bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị O không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Đối với chiếc ví và sổ sách không thu hồi được nhưng bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông H1 cũng không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền bỏ ra bồi thường thay cho chị O nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Xử lý vật chứng:

Trong quá trình phạm tội bị cáo có mặc 01 chiếc áo phông cộc tay mầu đen, 01 chiếc quần sooc mầu tím than, 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu đen, 01 đôi tông mầu vàng, giá trị sử dụng thấp nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen là tài sản của bị cáo đã sử dụng số tiền 3.000.000 đồng cướp giật được của chị O để chuộc về. Tuy nhiên bố bị cáo đã thay bị cáo bồi thường cho chị O số tiền trên và không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên Hội đồng xét xử trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc ví giả da và 01 cuốn sổ ghi chép, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trong quá trình phạm tội bị cáo có sử dụng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mầu nâu BKS: 99H6-2664 kèm đăng ký xe mang tên Nguyễn Xuân Hòa. Khoảng tháng 12/2020, ông Hòa đã bán lại chiếc xe cho anh Nguyễn Duy Biên. Tháng 02/2021, anh Biên đã bán lại chiếc xe này cho ông Nguyễn Thăng H1 là bố của bị cáo H. Khi bị cáo H sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội ngày 09/8/2021 ông H1 không biết. Ngày 23/9/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 99H6-2664 kèm đăng ký xe là có căn cứ.

[7] Đối với anh Nguyễn Văn Bàng, chị Nguyễn Thị Hải Oanh và bà Nguyễn Thị Sinh, khi bị cáo H dùng số tiền cướp giật được mua thẻ điện thoại, thuốc lá và chuộc điện thoại thì đều không biết nguồn gốc tiền là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Thăng H1, khi bị cáo H lấy xe mô tô đi chơi sau đó điều khiển xe thực hiện hành vi phạm tội, ông không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Cướp giật tài sản”

2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Xử phạt bị cáo H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H cho Uỷ ban nhân dân xã CH, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay mầu đen, mặt trước có hoa văn kim tuyến; 01 chiếc quần sooc mầu tím than, màu tím than đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu đen, có hoa văn màu đỏ đã qua sử dụng ; 01 đôi tông mầu vàng đã qua sử dụng;

- Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 3 màu đen, số imei 1: 860202042424656; số imei 2: 860202042424649 đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 10 năm 2021)

4. Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ