vanban.org

Bản án 01/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Đặng Đình H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/9/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình H cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HS-ST.
Ngày 05-01-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Trung;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Đình H, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 4, xã HL, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình D, sinh năm 1959 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1959; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/5/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2016/HSST về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành án tại Trại giam Nghĩa An đến ngày 05/11/2017 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Cao Văn C, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1989 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 8, xã HT, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn H1 (đã chết) và bà Đặng Thị H2, sinh năm 1951; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/9/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 324/2014/HSST về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành án tại Trại giam số 6 đến ngày 05/02/2016 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Bùi Thị VA, sinh năm: 1973; thường trú: Thôn CA, xã TĐ, huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội; tạm trú: 283, đường NTP, khu phố TP, phường TH, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; ngày 24/12/2020 bà Bùi Thị VA làm đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Bùi Văn V; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Mạnh C1; vắng mặt.

3. Ông Nguyễn MHH; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 14/9/2020, Đặng Đình H, Cao Văn C đi bộ từ nhà nghỉ Tuylip NT thuộc xã PH, huyện Phú Giáo đến Công ty gỗ HHO để làm việc lắp ráp máy. Khi H, C đi bộ ngang qua xe ô tô tải biển số 61C-389.41 do bà Bùi Thị VA làm chủ sở hữu đang đỗ bên lề đường trước tiệm tạp hóa CM thuộc ấp 1B, xã PH, huyện Phú Giáo thì H nhìn thấy cửa kính bên phải xe ô tô không đóng, bên trong có 01 túi xách da màu nâu, không có người ngồi bên trong xe nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. H nói C đứng phía trước đầu xe cảnh giới, C đồng ý, H đến vị trí đầu xe ô tô bên phải, thò tay phải vào trong xe lấy chiếc túi xách bên trong có số tiền 13.100.000 đồng và 02 điện thoại di động hiệu OPPO. H ôm túi xách trước ngực đi về hướng đường bê tông xây lắp thì bị bà VA phát hiện truy hô, H ném túi xách trên đường rồi bỏ chạy. Lúc này, nghe tiếng truy hô, ông Nguyễn Mạnh C1 và ông Nguyễn MHH là người đi đường thấy H bỏ chạy đã đuổi bắt được H giao Công an xã PH giải quyết, Cao Văn C thấy H bị bắt đã bỏ chạy về hướng Trạm thu phí PH thì bị lực lượng Công an xã PH bắt giữ. Công an xã PH, huyện Phú Giáo lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ: 01 túi xách da màu xám đen bên trong có số tiền 13.100.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S. Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận 01 túi xách da màu xám đen có giá 100.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S có giá 1.600.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S có giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.700.000 đồng. Ngày 21/9/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Bùi Thị VA 01 túi xách da màu xám đen, số tiền 13.100.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S. Bà VA nhận tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKSPG, ngày 26/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Đặng Đình H mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Cao Văn C mức hình phạt từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét. Về xử lý vật chứng, quá trình điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C thừa nhận hành vi phạm tội bị bắt quả tang, các bị cáo đã có hành vi cùng nhau trộm cắp tài sản của bị hại gồm 01 túi xách da màu xám đen, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5S và số tiền 13.100.000 đồng với tổng trị giá 16.800.000 đồng. Các bị cáo thống nhất với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, tội danh và mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.

Người bị hại bà Bùi Thị VA có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra, nội dung xin xét xử vắng mặt thừa nhận chính các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà VA, đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; ngoài ra, không có yêu cầu khác.

Tại phiên tòa, những người làm chứng ông Bùi Văn V, ông Nguyễn Mạnh C1, ông Nguyễn MHH vắng mặt, tuy nhiên căn cứ vào lời khai trong quá trình điều tra đã khai nhận chính các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị truy bắt giao Công an xử lý theo quy định; ngoài ra, không có ý kiến khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C: Các bị cáo đã vi phạm pháp luật, các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C khai nhận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 14/9/2020, tại lề đường trước tiệm tạp hóa CM (có xe ô tô tải biển số 61C-389.41 của bị hại bà Bùi Thị VA làm chủ sở hữu đang đỗ) thuộc ấp 1B, xã PH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C lợi dụng sơ hở của bà Bùi Thị VA đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 túi xách da màu xám đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S và số tiền 13.100.000 đồng.

[3] Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo kết luận: 01 túi xách da màu xám đen có giá 100.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S có giá 1.600.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S có giá 2.000.000 đồng.

[4] Hành vi của các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C lợi dụng sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị tài sản là 16.800.000 đồng, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[5] Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[6] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của các bị cáo:

[7] Xét hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

[8] Vụ án mang tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn cùng nhau thực hiện tội phạm, bị cáo Đặng Đình H là người đề xuất, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, rủ rê bị cáo Cao Văn C tham gia nên có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Cao Văn C là người bị rủ rê, lôi kéo, giúp sức về mặt tinh thần để bị cáo Đặng Đình H thực hiện hành vi phạm tội nên tính chất, mức độ tội phạm nhẹ hơn bị cáo H. Do đó, khi quyết định hình phạt cần cụ thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trong vụ án.

[9] Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết về nhân thân, tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

[10] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã chấp hành hình phạt tù theo bản án của Tòa án lại tiếp tục phạm tội.

[11] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không có.

[12] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại), thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn (bị cáo H được chứng nhận hộ cận nghèo); bị cáo C có cha là Cao Văn H1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[13] Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[14] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[15] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, truy tố đã trả lại tài sản hợp pháp cho bị hại là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[16] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Đình H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/9/2020.

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn C 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 14/9/2020.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo Đặng Đình H, Cao Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án của Tòa án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ