- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Quý H phạm tội “ Trộm Cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quý H phạm tội “ Trộm Cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HS-ST Ngày 14/01/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Phạm Huy Điệu .
2. Bà: Phạm Thị Tuẫn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông: Nguyễn Quang Đại- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70 /2020/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71 /2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo
Nguyễn Quý H, Sinh năm 1993; tại: Vĩnh Bảo, tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn NL, xã HH, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ;quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Quý Th, Sinh năm 1966, và bà Nguyễn Thị C, Sinh năm 1969; có vợ: Phạm Thị X,Sinh năm 1995; có 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân; Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2017/HSST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo- thành phố Hải Phòng, xử phạt 11 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản. Ngày 06/8/3018 chấp hành xong tiền án phí hình sự. Chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ ngày 05/10/2018. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/10/2020 chuyển tạm giam ngày 22/10/2020 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. ( Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
-Bị hại: Ông Đào Hồng C, sinh năm 1958. Trú tại: Thôn Giâm Me, xã ĐT, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
-Ông: Đỗ Hữu Đ, sinh năm 1973
-Chị: Vũ Thị K, sinh năm 1981 Đều trú tại: Thôn V- ĐT- Ninh Giang- Hải Dương.
-Ngƣời làm chứng: Ông: Trịnh Viết A, sinh năm 1981.
Trú tại: Thôn V- ĐT- Ninh Giang- Hải Dương.
Bị hại, nhân chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 00 giờ, ngày 17/10/2020 tại nhà ở Nguyễn Quý H có rủ Nguyễn Nhân T người cùng thôn đi sang địa bàn huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương để trộm cắp cây cảnh bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T nhất trí nên H đã chuẩn bị 01 xe mô tô nhãn hiệu Airbalde, đeo biển số 90T1 - 562.89; 01 kìm cộng lực kích thước 33 cm x 11 cm và 01 thuổng sắt kích thước 82 cm x 7,5 cm x 2,5 cm. T điều khiển xe mô tô đeo biển số 90T1 - 562.89 chở H đi sang địa bàn huyện Ninh Giang, trên đường đi H và T có nhặt được đoạn gậy gỗ kích thước 80 cm x 03 cm rồi cầm mang theo. Đến khoảng 0 giờ 52 phút cùng ngày, H và T đi đến trước cửa nhà ông Đỗ Hữu Đ ở thôn V - xã ĐT - huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương, thấy trong sân có điện sáng, T dừng xe mô tô, H xuống xe mô tô nhìn qua khe tường bao thấy bên sân trong có nhiều chậu cây cảnh. H cầm gậy gỗ mang theo và trèo qua tường bao vào trong sân thì phát hiện thấy 01 cây si nõn đỏ kích thước 70 cm x 80 cm được trồng trong chiếc chậu sành màu nâu, kích thước 30 cm x 40 cm x 15 cm, được đặt trên chiếc đôn hình lục giác ở giữa sân trước cửa nhà. H liền bê chậu cây si đi ra góc tường bao bên phải, hướng từ trong ra ngoài, rồi đặt chậu cây si lên vai đu bám, đưa chậu cây si ra bên ngoài. T ở bên ngoài trèo lên tường bao đỡ chậu si để H trèo qua tường bao ra bên ngoài. Lấy được cây si H điều khiển xe mô tô chở T ngồi sau bê chậu cây si đi về hướng thị trấn Ninh Giang - tỉnh Hải Dương. Khi H và T đi đến nhà ông Đào Hồng C ở thôn Giâm Me - xã ĐT - huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương, H và T nhìn thấy nhiều cây cảnh và 01 cây hoa giấy đang ra hoa màu tím, cao khoảng 160 cm, có nhiều tán được trồng trong chậu bê tông hình tròn được đặt trên chiếc đôn bê tông và được chằng buộc bằng dây thép, dây cáp để ở giáp lề đường ĐH01. T bảo H dừng xe mô tô để trộm cắp cây hoa giấy, H mở cốp xe mô tô lấy kìm cộng lực và thuổng sắt, H dùng kìm cộng lực cắt đứt dây thép và dây cáp rồi dùng thuổng sắt đào gốc cây hoa giấy còn T đứng trên đường cảnh giới. Khi lấy được cây hoa giấy H bê đặt lên yên xe mô tô, Tuần ngồi sau giữ cây rồi H điều khiển xe mô tô chở cây hoa giấy và cây si nõn đỏ về nhà mình cất giấu. Đến khoảng 7 giờ cùng ngày H đã bán cây hoa giấy cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 2.000.000 đồng, H đưa tiền cho T quản lý. Khi phát hiện thấy bị mất cây cảnh ông Đỗ Hữu Đ và ông Đào Hồng C đã trình báo Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang. Nhận được tin báo Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, trích xuất Camera an ninh đã làm rõ được hành vi phạm tội của Nguyễn Quý H và thu giữ cùng tang vật tại nhà ở của Nguyễn Quý H. Còn Nguyễn Nhân T đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang không bắt giữ được T. Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KLĐG ngày 19/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ninh Giang, kết luận:
Giá trị 01 cây si cảnh nõn đỏ, tuổi đời cây khoảng 20 năm; cây có thế trực, thân đôi; rễ bệ, đường kính gốc 15 cm; tán tròn, đường kính rộng khoảng 80 - 90 cm. Cây sống và phát triển bình thường, tại thời điểm ngày 17/10/2020 là: 12.500.000 đồng.
Giá của 01 chậu sành màu nâu có kích thước 34 x 44 x 15 cm, tại thời điểm ngày 17/10/2020 là: 1.000.000 đồng.
Giá trị của 01 cây hoa giấy cảnh màu tím, có 09 tán tròn, đường kính gốc 12 cm, cây cao 130 cm rễ chìm, dáng trực. Thời điểm bị mất cây sống và phát triển bình thường, đang có nhiều hoa, tại thời điểm ngày 17/10/2020 là: 4.000.000 đồng.
Giá trị 01 dây cáp lõi kim loại dài 03 m, tại thời điểm ngày 17/10/2020 là: 50.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản trên tại thời điểm ngày 17/10/2020 là: 17.550.000 đồng.
- Vật chứng: Chi cục thi hành án huyện Ninh Giang đang quản lý: 01 biển số 90T1 - 562.89; 01 thuổng sắt, đường kính 2,5 cm, chiều dài 82 cm, một đầu bẹt mỏng diện 7,5 cm; 01 kìm cộng lực dài 33 cm; 01 đôi giày vải và 01 quần vải màu đen( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2020)
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 28/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Nguyễn Quý H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại hay có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quý H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS; tịch thu cho tiêu huỷ; 01 biển số 90T1- 562.89. 01 01 thuổng sắt, 01 kìm cộng lực mầu xanh, 01 đôi giầy mầu đen, 01 quần vải mầu đen đều đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc giải quyết. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên,Viện kiểm sát huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiện hiện trường, Camara hình ảnh, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 0 giờ 52 phút ngày 17/10/2020, Nguyễn Quý H đã lén lút chiếm đoạt của gia đình ông Đỗ Hữu Đ 01 chậu sành và 01 cây si nõn đỏ có giá trị 13.500.000 đồng. Chiếm đoạt của gia đình ông Đào Hồng C 01 cây hoa giấy màu tím trị giá 4.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt 17.500.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Quý H dùng kìm cộng lực cắt phá 01 dây cáp bằng kim loại thiệt hại trị giá 50.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Quý H đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Trong vụ án này, quá trình điều tra Nguyễn Quý H có khai một đối tượng tên là Nguyễn Nhân T cùng H tham gia trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang đã tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần nhưng T vắng mặt tại địa phương, nên chưa đủ căn cứ để xử lý.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại ông C số tiền 4.050.000đ, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã một lần bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo- thành phố Hải Phòng, xử phạt 11 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không chịu cải sửa mà khi có cơ hội tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản; vì vậy cần có hình phạt nghiêm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các chứng cứ và lời khai của bị cáo thấy rằng; bị cáo là động tự do, không có kinh tế hay tài sản gì riêng; do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại các tài sản trao trả, đến nay các bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường trách nhiệm dân sự. Do vậy không phải đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Chi cục thi hành án huyện Ninh Giang đang quản lý: 01 biển số 90T1 - 562.89; 01 thuổng sắt, đường kính 2,5 cm, chiều dài 82 cm, một đầu bẹt mỏng diện 7,5 cm; 01 kìm cộng lực dài 33 cm; 01 đôi giày vải và 01 quần vải màu đen( Theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2020). Xét số vật chứng trên HĐXX nhận thấy; 01 biển số 90T1-562.89, 01 thuổng sắt , 01 kìm cộng lực dùng vào việc phạm tội, số vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đối với 01 xe Airblade màu nâu đen, số máy: JF46E-4302335; số khung: RLHJE4600DY621263 là vật chứng của vụ án khác do Cơ quan CSĐT - Công an huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình đang thụ lý giải quyết. Ngày 07/12/2020 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với 01 cây si nõn đỏ cùng chậu sành. Ngày 22/10/2020 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang đã trả lại cho người bị hại là ông Đỗ Hữu Đ là phù hợp. Đối với 01 gậy gỗ kích thước 80 cm x 03 cm, H đã vứt đi Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý
Đại diện VKSND huyện Ninh Giang đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Nhân T - sinh năm: 1994 ở NL - HH - Vĩnh Bảo - Hải Phòng cùng H tham gia trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang đã ra Quyết định tách hành vi của đối tượng Nguyễn Nhân T tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với người mua cây hoa giấy 2.000.000 đồng, không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ninh Giang không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 , Điều 38 BLHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quý H phạm tội “ Trộm Cắp tài sản”.
2. Về hình phạt : Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý H 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/10/2020.
3. Về Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu cho tiêu hủy; 01 biển số 90T1 - 562.89; 01 thuổng sắt, đường kính 2,5 cm, chiều dài 82 cm, một đầu bẹt mỏng diện 7,5 cm; 01 kìm cộng lực dài 33 cm; 01 đôi giày vải và 01 quần vải màu đen.( Đặc điểm, tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ninh Giang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang ngày 29/12/2020)
4. Về án phí; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Noi nhận:
| - VKSND huyện Ninh Giang; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Điều tra Công an huyện Ninh Giang; - Cơ quan THA Hình sự huyện Ninh Giang; - Chi cục THADS huyện Ninh Giang; - Bị cáo; - Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Ninh Giang. - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Minh Hải |