vanban.org

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 10/03/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Gia H. Chị Nguyễn Gia H được ly hôn với anh Lê Phi K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 10/3/2021
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Liên;

2. Bà Cù Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Vấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 02/2021/TLST-HNGĐ ngày 14/01/2021, về việc: “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐST-DS ngày 19/01/2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Gia H - Sinh năm 1998.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường Q, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi làm việc: Đường N, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Phi K - Sinh năm 1989.

Địa chỉ: TumWater, Washington 985xx-USA (Hoa Kỳ), vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/ Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn trình bày, nguyên đơn chị Nguyễn Gia H trình bày có nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Gia H và anh Lê Phi K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02/8/2017. Sau khi kết hôn, chị Hân và ông Lê Phi K sống chung với nhau được một thời gian ngắn, thì ông Lê Phi K trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc cho đến nay. Do thời gian xa cách đã lâu và vợ chồng không thể chung sống bên nhau, không quan tâm chăm sóc được cho nhau nên tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Phi K.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh Lê Phi K chưa có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H xác định chị và anh Lê Phi K không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

*/ Tại Văn bản trình bày ý kiến và Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lê Phi K trình bày có nội dung như sau:

Anh Lê Phi K và chị Nguyễn Gia H kết hôn với nhau theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02/8/2017. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Gia H về việc xin ly hôn, thì anh K đồng ý ly hôn với chị H, vì từ năm 2018 đến nay, anh K và chị H sống xa nhau, dẫn đến không còn yêu thương nhau, tình cảm không còn và không muốn chung sống với nhau nữa.

Về con chung và tài sản chung: Anh Lê Phi K xác định giữa anh và chị H không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung.

Do anh Lê Phi K đang sinh sống ở nước ngoài và công việc bận, không thể trực tiếp về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn được, nên anh Kha đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến xác định: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Chị Nguyễn Gia H và anh Lê Phi K là vợ chồng, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh nên không thể chung sống được với nhau; chị H có đơn xin ly hôn, đối với anh Lê Phi K đã có văn bản trình bày ý kiến đồng ý lý hôn với chị H. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Gia H và tuyên chị Nguyễn Gia H được ly hôn anh Lê Phi K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 1 Điều 470 của Bộ Luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Gia H, hiện đang đi làm ở xa, công việc bận nên đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; đối với bị đơn anh Lê Phi K hiện đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, anh Lê Phi K đã có đơn trình bày ý kiến và đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Chị Nguyễn Gia H và anh Lê Phi Kha kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 02/8/2017, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn, thì anh Lê Phi K trở về Hoa Kỳ sinh sống, làm việc cho đến nay. Chị H xác định do hoàn cảnh nên vợ chồng không thể chung sống được với nhau và hiện nay tình cảm cũng không còn, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Phi K; đối với anh Lê Phi K, đã có văn bản đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Gia H.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị Nguyễn Gia H và anh Lê Phi K không còn chung sống với nhau, tình cảm thực sự không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, bị đơn anh Lê Phi K cũng đồng ý ly hôn với chị H. Do đó, cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Gia H, giải quyết cho chị Nguyễn Gia H được ly hôn anh Lê Phi K, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung và tài sản chung: Chị Nguyễn Gia H và anh Lê Phi K đều xác định vợ chồng không có con chung, tài sản gì chung và không yêu cầu, nên Toà án không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Gia H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 228; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 1 Điều 470; Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Gia H.

Chị Nguyễn Gia H được ly hôn với anh Lê Phi K.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Gia H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp (Ông Thủy Ngọc Đ nộp thay) theo Biên lai thu số AA/2019/0019752 ngày 11/01/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đ.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Gia H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; bị đơn ông Lê Phi K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhân được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ