vanban.org

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Giao các con chung là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 23 tháng 9 năm 2007 và Nguyễn Thanh P - sinh ngày 29 tháng 01 năm 2010 cho chị Bùi Thị Hồng Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi. Chị Q không yêu cầu anh B cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 01 năm 2021
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Loan

2. Ông Hoàng Xuân Lộc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 180/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hồng Q - sinh năm 1987; trú tại: Thôn PC1B, xã VP, huyện VN, tỉnh KH. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1981; trú tại: Thôn PC1B, xã VP, huyện VN, tỉnh KH. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 26/5/2020, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 15/6/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hồng Q và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006 và đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 3 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện VN, tỉnh KH theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27, quyển số 01/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh B không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm gì đến vợ con. Mọi việc trong nhà đều do chị Q lo toan, gánh vác. Điều này làm cho vợ chồng thường xuyên cãi vã vì không có sự chia sẻ, thấu hiểu cho nhau. Chị Q đã nhiều lần nói chuyện, khuyên nhủ anh B nhưng anh vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng gay gắt nên từ đầu năm 2019 cho đến nay, vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến ai. Chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa. Chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 23/9/2007 và Nguyễn Thanh P - sinh ngày 29/01/2010. Hiện nay các con chung đang sống với chị Q. Chị Q yêu cầu giải quyết được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không ai nợ của vợ chồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn B để trình bày ý kiến về việc chị Q khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh B đều không có mặt nên Tòa án không lấy được lời khai của anh B, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị Hồng Q yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn B - trú tại thôn PC1B, xã VP, huyện VN, tỉnh KH; nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh KH. Bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án nhân dân huyện VN triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn B.

Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn anh Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng căn cứ vào lời khai của chị Q và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn giữa chị Bùi Thị Hồng Q và anh Nguyễn Văn B là tự nguyện, đăng ký kết hôn số 27 ngày 28 tháng 3 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện VN, tỉnh KH, nên quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh B là hợp pháp.

Căn cứ lời khai của chị Q, biên bản xác minh thì vợ chồng chị Q, anh B đã xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, vợ chồng không sống chung với nhau nữa, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh B đến Tòa để giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng anh B đều không có mặt, chứng tỏ anh B không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa; nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa hai người đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Q.

Về con chung: Chị Q, anh B có 02 (hai) con chung là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 23/9/2007 và Nguyễn Thanh P - sinh ngày 29/01/2010. Chị Q có yêu cầu được nuôi các con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Các con chung hiện đang do chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu H, cháu P đều có nguyện vọng được mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy việc giao cho chị Q được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu này của chị Q. Chị Q không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị Hồng Q xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn B mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu cầu của anh B.

Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Bùi Thị Hồng Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao các con chung là Nguyễn Thanh H - sinh ngày 23 tháng 9 năm 2007 và Nguyễn Thanh P - sinh ngày 29 tháng 01 năm 2010 cho chị Bùi Thị Hồng Q được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các con chung lần lượt đủ 18 (mười tám) tuổi.

Chị Q không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị Q, anh B có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết .

4. Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0003230 ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; chị Q đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ