- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ANH K LY HÔN CHỊ H"
- Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Nguyễn Duy K ly hôn chị Nguyễn Thu H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05/01/2021 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Trường Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Ngọc Thành.
2. Ông Nguyễn Văn Thẩm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 257/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2020/QĐST–HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện H1, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thành Phong, sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ 24 đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Tơ, sinh năm 1959, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện H1, tỉnh Hải Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, anh Nguyễn Duy K trình bày như sau: Anh và chị Nguyễn Thu H tự nguyện đăng ký kết hôn vào tháng 3 năm 2020 tại UBND phường T, thành phố N, tỉnh N. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng tính cách, lối sống, không trung thực với nhau. Cuộc sống chung giữa anh K và chị Hà không có hạnh phúc, hai bên đã sống ly thân từ tháng 4/2020. Đến nay không có biện pháp nào cải thiện tình trạng quan hệ hôn nhân giữa hai người. Xét thấy, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, anh K làm đơn ly hôn chị H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên anh K không đề nghị giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà đã nhiều lần triệu tập nhưng bị đơn cố tình không đến làm việc và không có quan điểm gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
- Lời trình bày của bà Nguyễn Thị Tơ (mẹ đẻ chị H) và ông Nguyễn Thành Phong (bố đẻ anh K) xác định: Anh K chị H xác lập quan hệ hôn nhân từ tháng 3 năm 2020, đến tháng 4 năm 2020 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân là do anh K, chị H bất đồng tính cách, lối sống, gia đình đã khuyên bảo nhưng không có kết quả. Anh K và chị H không thể quay về chung sống, đề nghị Toà án giải quyết anh K ly hôn chị H theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chưa đầy đủ (Viết tắt: BLTTDS). Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Nguyễn Duy K ly hôn chị Nguyễn Thu H; Về án phí, anh K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng; những người làm chứng vắng mặt và đều có ý kiến đề nghị xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị H đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố N, tỉnh N trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên tính cách không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Thời gian chung sống giữa hai người chỉ kéo dài khoảng 01 tháng. Hiện nay, hai bên sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, không có biện pháp nào cải thiện tình trạng quan hệ hôn nhân giữa hai người. Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị H đến làm việc. Tuy nhiên, chị đều vắng mặt không có lý do, không đến tham gia phiên hòa giải và cũng không bày tỏ quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của anh K. Điều đó thể hiện thái độ không thiện chí đoàn tụ của chị H.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định: Tình trạng quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử anh K ly hôn chị H là phù hợp quy định pháp luật.
. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh K và chị H không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Anh Nguyễn Duy K khởi kiện vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 BLTTDS và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1- Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Nguyễn Duy K ly hôn chị Nguyễn Thu H.
2 - Về án phí: Anh Nguyễn Duy K phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm dân sự ly hôn, nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2018/0002003 ngày 04/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà. Anh K đã thi hành xong nghĩa vụ về án phí.
3- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thanh Hà; - Chi cục THADS huyện Thanh Hà; - UBND P. T, TP N; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Đỗ Trường Giang |